Bắt, giữ, giam người trái pháp luật là hành vi ngăn cản, tước đoạt sự tự do dịch chuyển thân thể của người khác trái với quy định của pháp luật. Tội “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” là một trong những tội danh xâm phạm đến quyền tự do của con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật được Bộ luật Hình sự quy định như thế nào? Hình phạt cho tội này ra sao? Cùng Luật LPC tìm hiểu ở bài viết dưới đây.

(Ảnh minh họa – nguồn internet)
Căn cứ Pháp lý:
– Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
1.Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là gì?
Căn cứ theo khoản 1 Điều Điều 157 – Bộ luật hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật: “ Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 377 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
Như vậy, Tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật được thể hiện thông qua 2 yếu tố chính:
Thứ nhất, có hành vi bắt, giữ, giam người khác:
– Bắt người trái pháp luật: là hành vi khống chế người khác để giữ hoặc bắt giam họ, có thể sử dụng vũ lực hoặc các biện pháp khác để bắt người như còng tay, trói, trùm bao… sau đó mang người bị bắt đến nơi nhất định để tạm giữ hoặc tạm giam.
– Giữ người trái pháp luật: là hành vi không cho người bị bắt đi khỏi tầm quan sát của người phạm tội, như là buộc phải ở trong nhà, ngồi yên tại một chỗ… trong một thời gian nhất định
– Giam người trái pháp luật: là hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định, như là nhốt trong nhà, trong buồng giam, trại giam…
Thứ hai, yếu tố trái pháp luật được thể hiện ở người thực hiện hành vi bắt, giữ, hoặc giam người, cụ thể là:
– Người phạm tội là người không có thẩm quyền nhưng lại thực hiện việc bắt, giữ, giam người khác.
– Người phạm tội là người có thẩm quyền trong việc bắt, giữ hoặc giam người nhưng thực hiện việc bắt, giữ, giam người không đúng quy định của pháp luật.
2.Dấu hiệu pháp lý của Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
Khách thể của tội phạm
Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân nói riêng, quyền tự do, dân chủ của công dân nói chung.
Đối tượng tác động của tội phạm là con người cụ thể bị người phạm tội bắt, giữ hoặc giam trái pháp luật.
Mặt khách quan của tội phạm
– Bắt người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi khống chế người khác để tạm giữ hoặc tạm giam họ.
Việc khống chế này có thể dùng vũ lực hoặc các biện pháp khác nhau như trói, còng tay…
– Giữ người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi không cho người bị bắt đi đâu vượt ra ngoài sự kiểm soát của người phạm tội trong một khoảng thời gian ngắn.
– Giam người trái pháp luật: Được thể hiện ở hành vi nhốt người bị bắt vào một nơi trong một thời gian nhất định (như nhốt ở trong nhà…).
– Dấu hiệu khác: Hành vi bắt, giữ hoặc giam người nêu trên phải trái pháp luật.
Tội phạm hoàn thành kể từ khi người phạm tội có hành vi nhằm bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật
– Hậu quả của tội này thường là làm cho người bị hại hoặc do bị uất ức dẫn đên tự sát, hoặc bị tra tấn dùng nhục hình, gây thương tích hoặc gây tổn hại đến sức khoẻ… Tuy nhiên hậu quả đó không phải là dấu hiệu cấu thành cơ bản mà chỉ có ý nghĩa trong việc định khung hình phạt hoặc lượng hình.
– Mục đích của tội này không phải là dấu hiệu bắt buộc, nhưng nếu có tương ứng vói dấu hiệu cấu thành cơ bản của một tội khác, thì người có hành vi bắt, giữ, giam người trái pháp luật phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tương ứng đó.
Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Mục đích phạm tội rất đa dạng, có thể do tư thù cá nhân, do muốn có thành tích, do xúi giục, do nhận tiền làm thuê;… Tuy nhiên, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm này.
Chủ thể của tội phạm
Tội phạm được thực hiện bởi bất kỳ người nào có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS do BLHS quy định.
3. Hình phạt đối với tội bắt, giữ, giam người trái pháp luật
Hiện nay hình phạt của tội này được quy định tại Điều 157 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 cụ thể như sau:
Khung một (khoản 1)
Có mức hình phạt là phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội có đủ dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội này nêu ở mặt khách quan.
Khung hai (khoản 2)
Có mức phạt tù từ một năm đến năm năm. Được áp dụng đối vôi một trong các trường hợp phạm tội sau đây:
+ Có tổ chức.
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn: Hành vi này được hiểu là người có chức vụ, quyền hạn trong việc bắt, giữ hoặc giam người đã sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như một phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội.
+ Đối với người thi hành công vụ: Người thi hành công vụ là những người đang thực hiện các nhiệm vụ, công vụ của Nhà nước, (người này có thể là cán bộ, công chức Nhà nưóc hoặc được hợp đồng để làm một sô” công vụ của Nhà nước).
+ Phạm tội nhiều lần: Được hiểu là hành vi phạm tội này từ hai lần trở lên, mỗi lần phạm tội đều có đủ dấu hiệu cấu thành tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật và trong các lần phạm tội .đó chưa lần nào bị truy cứu trường hợp hình sự và cũng chưa hết thòi hiệu bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
+ Đối với nhiều người: Được hiểu là việc thực hiện hành vi phạm tội đối vối từ hai người bị hại trở lên.
Khung ba (khoản 3)
Có mức phạt tù từ ba năm đến mưòi năm. Được áp dụng đối với trường hợp phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng.
Hình phạt bổ sung (khoản 4)
Ngoài việc phải chịu một trong các hình phạt chính như nêu trên, người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật LPC. Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có vướng mắc các vấn đề pháp lý liên quan.
Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Luật LPC chúng tôi theo:
Hotline: 0936.028.777
Email: Lienhe.lpc@gmail.com
Website: https://lpc-law.vn/
Địa chỉ : Số 10 – Ngõ 219 Định Công Thượng – Q. Hoàng Mai – TP Hà Nội
Trân Trọng !

