Cho vay là một giao dịch dân sự phổ biến trong đời sống xã hội, tuy nhiên nếu cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự nhằm thu lợi bất chính, người cho vay phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Vậy, Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự bị phạt tù bao năm theo quy định của Bộ luật Hình sự?. Hãy cùng Luật LPC tìm hiểu ở bài viết dưới đây.
![]()
( Ảnh minh họa – nguồn internet)
Căn cứ Pháp lý:
– Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
– Nghị Quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021
1.Cho vay nặng lãi là gì?
Theo khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP, cho vay lãi nặng là trường hợp bên cho vay cho bên vay vay tiền với mức lãi suất gấp 05 lần trở lên mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Cụ thể thì mức lãi suất cao nhất tại Bộ luật Dân sự là 20%/năm (tức 1,67%/tháng) của khoản tiền vay, trừ trường hợp có quy định khác. Nếu cho vay bằng tài sản khác (không phải là tiền) thì khi giải quyết phải quy đổi giá trị tài sản đó thành tiền tại thời điểm chuyển giao tài sản vay.
2.Các yếu tố cấu thành Tội cho vay nặng lãi
Khách thể của tội phạm
Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước về tín dụng “mà cụ thể là trật tự trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, qua đó xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người vay” hay được gọi là hoạt động “tín dụng đen”.
Điều luật không quy định rõ nhưng có thể thấy đối tượng tác động của Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là số tiền mà “người cho vay” cho “người vay” vay để hưởng số tiền lãi vượt quá lãi suất quy định.
Mặt khách quan của tội phạm
– Hành vi khách quan của Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thể hiện ở một trong các hành vi sau:
+ Cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng trở lên;
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 BLDS thì lãi suất trong hợp đồng vay được xác định như sau: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp pháp luật liên quan có quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực…”
Như vậy, có thể hiểu “cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS”, tức là cho vay với lãi suất trên 100%/năm. Nghĩa là, các giao dịch vay mà lãi suất từ 20%/năm trở xuống là giao dịch có lãi suất hợp pháp; các giao dịch có lãi suất từ trên 20%/năm đến dưới 100%/năm là giao dịch có lãi suất bất hợp pháp, nhưng chưa đến mức bị xử lý về hình sự; các giao dịch có lãi suất từ 100%/năm trở lên mới thuộc đối tượng để xem xét trách nhiệm hình sự. Vì vậy, theo quy định về mức lãi suất tối đa của BLDS, nếu lãi suất cho vay là từ 100%/năm trở lên thì hành vi cho vay có dấu hiệu của Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên hành vi trên phải đi kèm điều kiện là số tiền thu lợi bất chính có được từ hành vi này là 30.000.000 đồng trở lên. Nếu trong giao dịch dân sự, người cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên nhưng thu lợi bất chính dưới 30.000.000 đồng thì cũng không bị coi là người phạm tội và hành vi trên cũng không cấu thành tội phạm này.
+ Cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cho vay lãi nặng.
Nghĩa là người thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này và chưa được xóa án tích theo các Điều 7, Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính mà nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên nhưng thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng.
+ Cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong BLDS, thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng nhưng trước đó đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Nghĩa là người thực hiện hành vi cho vay lãi nặng đã bị kết án về: Tội cho vay lãi nặng theo quy định tại Điều 171 BLHS năm 1985 hoặc Tội cho vay lãi nặng theo quy định tại Điều 163 BLHS năm 1999 hoặc Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 201 BLHS năm 2015 và chưa được xóa án tích theo các Điều 70, Điều 71 và Điều 72 BLHS năm 2015 mà nay lại tiếp tục thực hiện hành vi cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên nhưng thu lợi bất chính chưa đến 30.000.000 đồng.
– Hậu quả:
Hậu quả của hành vi cho vay lãi nặng có thể là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất. Thiệt hại về vật chất như: Tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự, tài sản… của người vay và gia đình người vay (như hành vi tạt sơn, mắm tôm vào nhà người vay khi người vay ở chung với gia đình). Thiệt hại phi vật chất như: Ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người vay và gia đình của họ…(như hành vi điện thoại cho những người thân trong gia đình người vay để khủng bố tinh thần bằng cách đe dọa, quấy rối…). Hậu quả trực tiếp của hành vi cho vay lãi nặng là gây thiệt hại cho người vay, làm cho người vay phải chịu mức lãi quá cao dẫn đến mất khả năng chi trả.
Đối với Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
Chủ thể của tội phạm
Bất kỳ người nào có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của BLHS là từ đủ 16 tuổi trở lên
Mặt chủ quan của tội phạm
Người phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực hiện hành vi của mình với: Lỗi cố ý trực tiếp, tức là “người phạm tội nhận thức rõ được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, họ thực hiện một cách chủ động và mong muốn việc cho vay diễn ra”; không có trường hợp người phạm tội cho vay lãi nặng thực hiện tội phạm do vô ý, vì người phạm tội này bao giờ cũng mong muốn thực hiện hành vi phạm tội.
Người phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực hiện hành vi của mình với: Động cơ vụ lợi (nhằm hưởng lợi về kinh tế).
Người phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thực hiện hành vi của mình với: Mục đích thu lợi bất chính thông qua hành vi cho vay lãi nặng. Tuy nhiên, mục đích phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.
3.Hình phạt đối với Tội cho vay nặng lãi
Căn cứ Điều 201 Bộ luật hình sự quy định về Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự phải chịu hình phạt sau đây :
Khung 1 (khoản 1): Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
Khung 2 (khoản 2): Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Ngoài ra, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Trên đây là nội dung tư vấn của Luật LPC. Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có vướng mắc các vấn đề pháp lý liên quan.
Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Luật LPC chúng tôi theo:
Hotline: 0936.028.777
Email: Lienhhe.lpc@gmail.com
Website: https://lpc-law.vn/
Địa chỉ : Số 10 – Ngõ 219 Định Công Thượng – Q. Hoàng Mai – TP Hà Nội
Trân Trọng !

