<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>LPCLaw</title>
	<atom:link href="https://dlaw.com.vn/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://dlaw.com.vn/</link>
	<description></description>
	<lastBuildDate>Sun, 29 Dec 2024 03:31:56 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.9.1</generator>

<image>
	<url>https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2024/08/cropped-3-removebg-preview-1-32x32.png</url>
	<title>LPCLaw</title>
	<link>https://dlaw.com.vn/</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/nhung-diem-moi-quan-trong-cua-luat-dat-dai-nam-2024/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/nhung-diem-moi-quan-trong-cua-luat-dat-dai-nam-2024/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 16 Aug 2024 16:01:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tư vấn Pháp Luật Đất Đai]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7708</guid>

					<description><![CDATA[<p>So với Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 có nhiều điểm mới, mang tính đột phá, giải quyết tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong các chính sách, pháp luật có liên quan đến đất đai… Căn cứ pháp lý: – Luật đất đai 2013 – Luật đất đai 2024 1....</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/nhung-diem-moi-quan-trong-cua-luat-dat-dai-nam-2024/">Những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-size: 110%; color: #000000;">So với Luật Đất đai năm 2013, Luật Đất đai năm 2024 có nhiều điểm mới, mang tính đột phá, giải quyết tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn trong các chính sách, pháp luật có liên quan đến đất đai…</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;"><span style="color: #000000;"><img decoding="async" class="alignnone wp-image-6440" src="http://lpc-law.vn/wp-content/uploads/2022/12/kisspng-book-reading-library-icon-books-vector-5aa978ed0dddd7.1128578915210559810568-removebg-preview.png" alt="" width="37" height="37" srcset="https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2022/12/kisspng-book-reading-library-icon-books-vector-5aa978ed0dddd7.1128578915210559810568-removebg-preview.png 500w, https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2022/12/kisspng-book-reading-library-icon-books-vector-5aa978ed0dddd7.1128578915210559810568-removebg-preview-300x300.png 300w, https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2022/12/kisspng-book-reading-library-icon-books-vector-5aa978ed0dddd7.1128578915210559810568-removebg-preview-150x150.png 150w" sizes="(max-width: 37px) 100vw, 37px" /> </span><span style="color: #ff0000; font-size: 110%;"><strong>Căn cứ pháp lý:</strong></span></span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">– Luật đất đai 2013</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">– Luật đất đai 2024</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>1. Đất không có giấy tờ trước ngày 01/7/2014 được cấp Sổ đỏ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Khoản 3 Điều 138 Luật Đất đai 2024 quy định, hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất từ 15/10/1993 &#8211; trước 01/7/2014 không có giấy tờ về quyền sử dụng đất sẽ được cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng các điều kiện sau:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Không vi phạm pháp luật về đất đai;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Không thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận là không có tranh chấp.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Theo đó, Luật Đất đai 2024 đã mở rộng mốc thời gian sử dụng đất không có giấy tờ được cấp Sổ đỏ thêm 10 năm (từ 01/7/2004 thành 01/7/2014). Đồng nghĩa với việc, từ 01/8/2024, đất không có giấy tờ sử dụng trước 01/7/2014 tăng cơ hội được cấp Sổ đỏ<strong>.</strong></span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>2. Đất cấp sai thẩm quyền sau 2014 sẽ được cấp Sổ đỏ</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đất được giao không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân từ ngày 01/7/2014 &#8211; trước ngày 01/01/ đáp ứng các điều sau theo quy định tại khoản 4 Điều 140 Luật Đất đai 2024 thì được cấp Sổ đỏ:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Nay được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận không có tranh chấp;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Phù hợp với quy hoạch sử dụng đất;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Người sử dụng đất có giấy tờ chứng minh đã nộp tiền để được sử dụng đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Từ 01/8/2024 &#8211; khi Luật Đất đai 2024 có hiệu lực, đất cấp sai thẩm quyền sau ngày 01/7/2014 &#8211; trước ngày 01/8/2024 sẽ được cấp Sổ đỏ nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên.</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>3. Không còn cấp đất cho hộ gia đình</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Điều 4 Luật Đất đai 2024 quy định về người sử dụng đất, trong đó không có hộ gia đình.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Hiện nay, theo Điều 5 Luật Đất đai 2013 thì người sử dụng đất có bao gồm hộ gia đình.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2024 còn định nghĩa hộ gia đình sử dụng đất như sau:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2025).</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>4. Thay đổi tên gọi chính xác của sổ đỏ, sổ hồng</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Theo Luật Đất đai 2024 thì sổ đỏ, sổ hồng có tên gọi chính xác là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Trước đây, sổ đỏ, sổ hồng có tên gọi chính xác như sau:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Từ ngày 10/12/2009 đến ngày 31/12/2023, sổ đỏ, sổ hồng sẽ có tên gọi chính xác là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Theo Nghị định 88/2009/NĐ-CP, Thông tư 17/2009/TT-BTNMT, Luật Đất đai 2013).</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Trước đó nữa thì sổ đỏ sổ hồng có tên gọi là Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Theo Nghị định 60-CP ngày 05/7/1994, Nghị định 90/2006/NĐ-CP, Nghị định 64-CP, Thông tư 346/1998/TT-TCĐC).</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>5. Mở rộng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân không quá 15 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 176 Luật Đất đai 2024.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Hiện nay, theo Điều 130 Luật Đất đai 2013, hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân không quá 10 lần hạn mức giao đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đối với mỗi loại đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 129 Luật Đất đai 2013.</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>6. Bỏ khung giá đất, ban hành Bảng giá đất mới từ 01/01/2026</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đây là một trong những thay đổi nhận được sự quan tâm của đông đảo người dân, theo đó, Luật Đất đai 2024 số 31/2024/QH14 đã bỏ khung giá đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đồng thời, tại Điều 159 Luật này quy định, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương sẽ công bố Bảng giá đất mới áp dụng từ ngày 01/01/2026.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đặc biệt, hằng năm Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh phải trình Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh quyết định điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung bảng giá đất để công bố và áp dụng từ ngày 01/01 năm sau.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Điều này đồng nghĩa với việc, sẽ có Bảng giá đất mới từ ngày 01/01/2026 và Bảng giá đất sẽ được ban hành theo từng năm (nếu có điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung) thay vì định kỳ 05 năm/lần như quy định hiện hành tại Điều 114 Luật Đất đai năm 2013.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bảng giá đất hiện hành sẽ tiếp tục được áp dụng đến hết ngày 31/12/2025, trong trường hợp cần thiết, các tỉnh, thành phố có thể điều chỉnh Bảng giá đất theo quy định mới cho phù hợp với thực tế giá đất tại địa phương.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bên cạnh đó, Luật Đất đai 2024 nhấn mạnh, việc xác định giá đất phải đảm bảo nguyên tắc thị trường thay vì căn cứ vào giá đất tối thiểu &#8211; tối đa của khung giá đất do Chính phủ ban hành như hiện nay.</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>7. 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế &#8211; xã hội</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Điều 79 Luật Đất đai 2024 quy định chi tiết 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế &#8211; xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong đó có thể kể đến:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">1- Xây dựng công trình giao thông:</span></p>
<ul>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đường ô tô cao tốc, đường ô tô, đường trong đô thị, đường nông thôn kể cả đường tránh, đường cứu nạn và đường trên đồng ruộng phục vụ nhu cầu đi lại chung của mọi người, điểm dừng xe, điểm đón trả khách, trạm thu phí giao thông, công trình kho bãi, nhà để xe ô tô; bến phà, bến xe, trạm dừng nghỉ;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Các loại hình đường sắt; nhà ga đường sắt;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Các loại cầu, hầm phục vụ giao thông;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Công trình đường thủy nội địa, công trình hàng hải;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Công trình hàng không;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Tuyến cáp treo và nhà ga cáp treo;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Cảng cá, cảng cạn;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Các công trình trụ sở, văn phòng, cơ sở kinh doanh dịch vụ trong ga, cảng, bến xe; hành lang bảo vệ an toàn công trình giao thông mà phải thu hồi đất để lưu không;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Các kết cấu khác phục vụ giao thông vận tải.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">2- Xây dựng công trình thủy lợi:</span></p>
<ul>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đê điều, kè, cống, đập, tràn xả lũ, hồ chứa nước, đường hầm thủy công, hệ thống cấp nước, thoát nước, tưới nước, tiêu nước kể cả hành lang bảo vệ công trình thủy lợi mà phải sử dụng đất;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Công trình thủy lợi đầu mối kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình thủy lợi thuộc phạm vi công trình thủy lợi.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">3- Xây dựng công trình cấp nước, thoát nước:</span></p>
<ul>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Nhà máy nước;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Trạm bơm nước;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bể, tháp chứa nước;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Tuyến ống cấp nước, thoát nước;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Hồ điều hòa;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Công trình xử lý nước, bùn, bùn cặn kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình cấp nước, thoát nước.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;"><em>Quy định cụ thể 32 trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế &#8211; xã hội (Ảnh minh họa)</em></span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">4- Xây dựng công trình xử lý chất thải rắn:</span></p>
<ul>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Trạm trung chuyển;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bãi chôn lấp rác;</span></li>
<li><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Khu liên hợp xử lý, khu xử lý, cơ sở xử lý chất thải rắn, chất thải nguy hại kể cả nhà làm việc, nhà kho, cơ sở sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng công trình xử lý chất thải rắn.</span></li>
</ul>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">5- Xây dựng chợ dân sinh, chợ đầu mối;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">6- Xây dựng công trình tín ngưỡng, bao gồm: đình, đền, am, miếu và công trình tín ngưỡng hợp pháp khác…</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>8. Thêm nhiều trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Luật Đất đai 2024 đã bổ sung thêm một số trường hợp được miễn, giảm tiền sử dụng đất từ ngày 01/8/2024 như:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Hộ gia đình, cá nhân được giao đất ở khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở phải di chuyển chỗ ở mà không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở mà không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Sử dụng đất làm mặt bằng xây dựng nhà xưởng sản xuất</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Sử dụng đất xây dựng công trình cấp nước sạch và thoát nước, xử lý nước thải tại khu vực đô thị và nông thôn;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Đất để làm bãi đỗ xe, xưởng bảo dưỡng phục vụ hoạt động vận tải hành khách công cộng; đất xây dựng công trình trên mặt đất phục vụ cho việc vận hành, khai thác sử dụng công trình ngầm…</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>9. Bổ sung thêm các hình thức bồi thường cho người dân bị thu hồi đất</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Bên cạnh hình thức giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi hoặc bằng tiền (trong trường hợp không có đất để bồi thường), Luật Đất đai 2024 đã bổ sung thêm hình thức bồi thường bằng đất khác mục đích sử dụng với loại đất bị thu hồi; Nhà ở.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đặc biệt, ưu tiên người dân được bồi thường bằng đất, bằng nhà ở được lựa chọn bồi thường bằng tiền nếu có nhu cầu.</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>10. Chỉ được thu hồi đất khi đã bàn giao nhà ở tái định cư</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đây là một trong những điểm mới của Luật Đất đai 2024 liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Theo đó, khoản 6 Điều 91 Luật Đất đai 2024 nêu rõ:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">…Việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc bố trí tái định cư phải được hoàn thành trước khi có quyết định thu hồi đất.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Khoản 5 Điều này cũng quy định, khu tái định cư phải hoàn thiện các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ theo quy hoạch chi tiết được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Đồng thời phải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng dân cư nơi có đất thu hồi. Một khu tái định cư có thể bố trí cho một/nhiều dự án.</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Như vậy, từ ngày 01/8/2024, về nguyên tắc, việc tái định cư phải thực hiện trước mới được thu hồi đất.</span></p>
<h2><span style="font-size: 80%; color: #ff0000;"><strong>11. Bổ sung thêm khoản hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất</strong></span></h2>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">Ngoài các khoản hỗ trợ như quy định hiện hành, Luật Đất đai 2024 bổ sung thêm các khoản hỗ trợ khác:</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Hỗ trợ di dời vật nuôi;</span></p>
<p><span style="font-size: 105%; color: #000000;">&#8211; Hỗ trợ để tháo dỡ, phá dỡ, di dời đối với tài sản gắn liền với đất là phần công trình xây dựng theo giấy phép xây dựng có thời hạn theo pháp luật về xây dựng mà đến thời điểm thu hồi đất giấy phép đã hết thời hạn.\</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Trên đây là Những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024 Quý khách hàng vui lòng liên hệ <span style="color: #0000ff;"><a style="color: #0000ff;" href="https://lpc-law.vn/"><strong>Luật LPC</strong></a> </span>để được tư vấn cụ thể.</span></p>
<p><span style="color: #000000;"><strong><img decoding="async" class="alignnone wp-image-5948" src="http://lpc-law.vn/wp-content/uploads/2022/11/images-3.jpg" alt="" width="31" height="31" srcset="https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2022/11/images-3.jpg 160w, https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2022/11/images-3-150x150.jpg 150w" sizes="(max-width: 31px) 100vw, 31px" /> <span style="font-size: 105%; color: #0000ff;">Mọi thông tin chi tiết, Quý khách vui lòng liên hệ với Luật LPC chúng tôi theo:</span></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000;">Hotline: <span style="color: #ff0000; font-size: 105%;"><strong>0936.028.777</strong></span></span></p>
<p><span style="color: #000000;">Email: <span style="color: #0000ff;"><a style="color: #0000ff;" href="https://lpc-law.vn/trom-cap-tai-san-bi-phat-the-nao-moi-nhat-2022/info.tienphonglaw@gmail.com">info.lpc@gmail.com</a></span></span></p>
<p><span style="color: #000000;">Website: <span style="text-decoration: underline;"><span style="color: #0000ff;"><a style="color: #0000ff; text-decoration: underline;" href="https://lpc-law.vn/">https://lpc-law.vn/</a></span></span></span></p>
<p><span style="color: #000000;">Trân Trọng !</span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/nhung-diem-moi-quan-trong-cua-luat-dat-dai-nam-2024/">Những điểm mới quan trọng của Luật Đất đai năm 2024</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/nhung-diem-moi-quan-trong-cua-luat-dat-dai-nam-2024/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ÁN LỆ SỐ 70/2023/AL Về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-70-2023-al-ve-viec-cham-dut-hop-dong-lao-dong-doi-voi-nguoi-lao-dong-la-can-bo-cong-doan-khong-chuyen-trach/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-70-2023-al-ve-viec-cham-dut-hop-dong-lao-dong-doi-voi-nguoi-lao-dong-la-can-bo-cong-doan-khong-chuyen-trach/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 06:29:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7660</guid>

					<description><![CDATA[<p>ÁN LỆ SỐ 70/2023/AL Về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-70-2023-al-ve-viec-cham-dut-hop-dong-lao-dong-doi-voi-nguoi-lao-dong-la-can-bo-cong-doan-khong-chuyen-trach/">ÁN LỆ SỐ 70/2023/AL Về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000;"><span style="font-size: 105%;"><strong>ÁN LỆ SỐ 70/2023/AL </strong></span><span style="font-size: 105%;"><strong>Về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách</strong></span></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><em>Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm số 06/2022/LĐ-GĐT ngày 26/9/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án lao động “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa nguyên đơn là ông Vương Quốc A với bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn K Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 3 và 4 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người lao động và người sử dụng lao động ký kết hợp đồng lao động xác định thời hạn. Trong thời hạn hợp đồng, người lao động trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn cơ sở nhưng việc ứng cử và trúng cử là không hợp lệ. Hết thời hạn hợp đồng, người sử dụng lao động ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án phải xác định người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động là đúng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điều 36 Bộ luật Lao động năm 2012 (tương ứng với Điều 34 Bộ luật Lao động năm 2019); Điều 192 Bộ luật Lao động năm 2012;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điều 25 Luật Công đoàn năm 2012.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khóa của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Hợp đồng lao động”; “Chấm dứt hợp đồng lao động”; “Cán bộ công đoàn”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Nguyên đơn ông Vương Quốc A trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ông được Công ty TNHH K Việt Nam (Công ty K) nhận vào làm việc từ tháng 3/2015, thử việc 01 tháng, sau đó giao kết hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng. Sau khi hết hạn hợp đồng, Công ty K gia hạn đến ngày 25/11/2016.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trong quá trình làm việc, ông A hoàn thành nhiệm vụ, không bị xử lý kỷ luật. Ngày 25/11/2016, Công ty K giao cho ông Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD chấm dứt hợp đồng lao động với lý do hết hạn hợp đồng lao động, lúc này ông đang là Chủ tịch Công đoàn cơ sở của Công ty.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Nhận thấy Công ty K chấm dứt hợp đồng lao động với ông không đúng nên ông khởi kiện yêu cầu Công ty nhận ông trở lại làm việc, thanh toán tiền lương và bồi thường các khoản tổng cộng 327.690.406 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người đại diện phía bị đơn trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Công ty K có ký hợp đồng lao động như ông A trình bày. Trước khi hợp đồng lao động hết hạn ngày 24/3/2016, Công ty ban hành Quyết định số 03/2016/QĐNV-KD không tái ký hợp đồng lao động với ông A. Công ty gia hạn hợp đồng lao động với ông A từ ngày 26/4/2016 đến ngày 25/11/2016 (hết nhiệm kỳ BCH Công đoàn). Ngày 24/10/2016, Công ty tiếp tục ban hành Quyết định không tái ký hợp đồng lao động với ông A, gửi cho ông A và Công đoàn Khu công nghiệp B.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau đó, Công ty biết được BCH Công đoàn cơ sở tiến hành Đại hội và bầu ông A làm Chủ tịch Công đoàn. Công ty gửi văn bản đến Công đoàn Khu công nghiệp B về việc chấm dứt hợp đồng lao động với ông A nhưng không được chấp nhận. Công ty K tiếp tục gửi văn bản đến Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai được hướng dẫn theo quy định của pháp luật. Do Công ty K chấm dứt hợp đồng lao động với ông A đúng quy định nên không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của ông A.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai: Xin vắng mặt và không có lời trình bày gửi đến Tòa án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công đoàn Công ty TNHH K Việt Nam trình bày: Trình tự thủ tục đại hội đúng quy định theo hướng dẫn.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án sơ thẩm số 21/2019/LĐ-ST ngày 21/11/2019, Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa quyết định (tóm tắt):</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vương Quốc A về việc “Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” với Công ty TNHH K Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 05/12/2019, ông Vương Quốc A kháng cáo bản án sơ thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án phúc thẩm số 19/2020/LĐ-PT ngày 30/7/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định (tóm tắt):</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Vương Quốc A, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Buộc Công ty TNHH K Việt Nam phải trả tiền lương trong thời gian ông Vương Quốc A không được làm việc từ ngày 25/11/2016 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm 21/11/2019 là 35 tháng 18 ngày (5.733.000 đồng/tháng x 35 tháng + 5.733.000 đồng/tháng : 26 ngày x 18 ngày) = 204.624.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bồi thường 02 tháng tiền lương do Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động = 11.466.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tổng cộng: 216.090.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Công ty TNHH K Việt Nam phải truy đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm thất nghiệp cho ông Vương Quốc A đầy đủ từ tháng 11/2016 đến tháng 11/2019, mức lương làm căn cứ đóng là 5.733.000 đồng/tháng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm trả, án phí và quyền, nghĩa vụ của các đương sự trong giai đoạn thi hành án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 11/9/2020, Công ty TNHH K Việt Nam yêu cầu xem xét lại bản án phúc thẩm nêu trên theo thủ tục giám đốc thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định số 01/2022/KN-LĐ ngày 22/4/2022, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án lao động phúc thẩm nêu trên. Đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án phúc thẩm số 19/2020/LĐ-PT ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2019/LĐ-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Ông Vương Quốc A và Công ty TNHH K Việt Nam (sau đây gọi tắt là Công ty K) ký hợp đồng lao động số 15/HĐLĐ/KD.14 ngày 25/4/2015, thời hạn 12 tháng, hết hạn ngày 25/4/2016. Trong thời gian hợp đồng lao động có hiệu lực, Công đoàn cơ sở Công ty K được thành lập và ông Vương Quốc A được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành lâm thời theo Quyết định số 111/QĐCN-CĐKCN ngày 25/11/2015, thời hạn 12 tháng để tiến hành đại hội bầu Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở trước ngày 25/11/2016. Vì vậy, Công ty K và ông A ký văn bản thỏa thuận số 137/HĐLĐ/KD.16 về việc gia hạn hợp đồng lao động của ông A đến ngày 25/11/2016, trong đó ghi rõ “Gia hạn thời gian tới khi kết thúc nhiệm kỳ BCH Công đoàn 25/11/2015-25/11/2016”. Thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 6 Điều 192 Bộ luật Lao động và Điều 25 Luật Công đoàn.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Song song với việc gia hạn hợp đồng lao động với ông A cho đến khi kết thúc nhiệm kỳ Ban Chấp hành Công đoàn như đã nêu trên, Công ty K cùng có nhiều văn bản thông báo cho ông A và Công đoàn Khu công nghiệp B biết sẽ không tái ký hợp đồng lao động với ông A sau khi hết thời hạn gia hạn, cụ thể: Quyết định số 03/2016/QĐNV-KD ngày 24/3/2016; các Văn bản ngày 24/10/2016, 07/11/2016; Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông A thừa nhận có nhận được các quyết định, thông báo của Công ty K về việc không tái ký hợp đồng lao động với ông.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Tại thời điểm ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tiến hành Đại hội thì hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn 01 tháng, nhưng ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở để bầu là không phù hợp với Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là: “Người tham gia Ban Chấp hành ngoài đảm bảo theo tiêu chuẩn, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: về tái cử ban chấp hành: Có đủ tuổi công tác để đảm nhiệm ít nhất 1/2 nhiệm kỳ”. Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành Quyết định số 138/QĐCN-CĐKCN ngày 27/10/2016 công nhận là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K ban hành Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016 chấm dứt hợp đồng lao động với ông A là đúng quy định tại khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động. Do đó, việc ông A khởi kiện cho rằng việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông trái pháp luật là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên,</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ Điều 337, Điều 343 và Điều 349 Bộ luật Tố tụng dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Chấp nhận Kháng nghị số 01/2022/KN-LĐ ngày 22/4/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Hủy Bản án phúc thẩm số 19/2020/LĐ-PT ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2019/LĐ-ST ngày 21/11/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>&#8220;[3] Tại thời điểm ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tiến hành Đại hội thì hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn 01 tháng, nhưng ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở để bầu là không phù hợp&#8230; Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành Quyết định số 138/QĐCN-CĐKCN ngày 27/10/2016 công nhận là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[4] Sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K ban hành Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016 chấm dứt hợp đồng lao động với ông A là đúng quy định tại khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động. Do đó, việc ông A khởi kiện cho rằng việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông trái pháp luật là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật.”</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-70-2023-al-ve-viec-cham-dut-hop-dong-lao-dong-doi-voi-nguoi-lao-dong-la-can-bo-cong-doan-khong-chuyen-trach/">ÁN LỆ SỐ 70/2023/AL Về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-70-2023-al-ve-viec-cham-dut-hop-dong-lao-dong-doi-voi-nguoi-lao-dong-la-can-bo-cong-doan-khong-chuyen-trach/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ÁN LỆ SỐ 69/2023/AL1 Về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-69-2023-al1-ve-tham-quyen-cua-trong-tai-thuong-mai-trong-viec-giai-quyet-tranh-chap-thoa-thuan-bao-mat-thong-tin-va-khong-canh-tranh/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-69-2023-al1-ve-tham-quyen-cua-trong-tai-thuong-mai-trong-viec-giai-quyet-tranh-chap-thoa-thuan-bao-mat-thong-tin-va-khong-canh-tranh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 06:27:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7658</guid>

					<description><![CDATA[<p>ÁN LỆ SỐ 69/2023/AL1 Về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-69-2023-al1-ve-tham-quyen-cua-trong-tai-thuong-mai-trong-viec-giai-quyet-tranh-chap-thoa-thuan-bao-mat-thong-tin-va-khong-canh-tranh/">ÁN LỆ SỐ 69/2023/AL1 Về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000; font-size: 105%;"><strong>ÁN LỆ SỐ 69/2023/AL</strong><strong>1 </strong><strong>Về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh</strong></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><em>Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định số 755/2018/QĐ-PQTT ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc dân sự “Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài”; người yêu cầu là bà Đỗ Thị Mai T, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH R.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 8 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người lao động và người sử dụng lao động ký kết thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh về việc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động, người lao động không được làm công việc tương tự hoặc công việc cạnh tranh với người sử dụng lao động trong thời hạn nhất định, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án phải xác định tranh chấp về thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh giữa hai bên là thỏa thuận độc lập với hợp đồng lao động, thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Khoản 2 Điều 2, Điều 13 và khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại năm 2010;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2015;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khóa của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh”; “Thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại”; “Thẩm quyền của Trọng tài thương mại”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG VỤ VIỆC:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 10/10/2015, Công ty TNHH R và bà Đỗ Thị Mai T ký kết hợp đồng lao động với thời hạn mười hai (12) tháng (từ ngày 10/10/2015 đến 31/10/2016), bà T làm việc tại Công ty R với vị trí là Trưởng bộ phận tuyển dụng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 21/10/2015, Công ty R và bà T đã ký kết Thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (sau đây viết tắt là NDA), trong đó khoản 1 Điều 3 NDA có nội dung: <em>“Trong quá trình cá nhân được tuyển dụng hoặc làm việc với Công ty R và trong thời gian mười hai (12) tháng dương lịch sau khi chấm dứt tuyển dụng hoặc kết thúc làm việc với Công ty R, không xét đến nguyên nhân chấm dứt tuyển dụng hoặc kết thúc làm việc, cá nhân đồng ý không, trực tiếp hoặc gián tiếp và trên toàn bộ phạm vi lãnh thổ, thực hiện công việc tương tự công việc hoặc về bản chất tương tự công việc vào bất kỳ công việc kinh doanh nào cạnh tranh với L.vn (&#8230;), đang hoặc trong tương lai sẽ cạnh tranh với công việc kinh doanh của L.vn, Công ty R và/hoặc các đơn vị liên kết và các đối tác của Công ty R”</em>. Các bên cũng thỏa thuận nếu xảy ra tranh chấp sẽ được giải quyết bằng phán quyết trọng tài.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 01/11/2016, Công ty R và bà T tiếp tục ký kết hợp đồng lao động có thời hạn là 12 tháng (từ ngày 01/11/2016 đến 31/10/2017) với vị trí là Trưởng bộ phận tuyển dụng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 18/11/2016, bà T chấm dứt Hợp đồng lao động năm 2016 với Công ty R. Ngày 02/10/2017, Công ty R đã nộp đơn khởi kiện kèm theo các chứng cứ tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC), theo đó yêu cầu bà T bồi thường cho Công ty R số tiền 205.197.300 đồng, bằng 03 (ba) lần tiền lương tháng liền kề trước khi bà T đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động năm 2016 vì bà T đã vi phạm khoản 1 Điều 3 NDA.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 19/02/2018, Hội đồng trọng tài thuộc VIAC lập tại Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Phán quyết trọng tài số 75/17 HCM có nội dung như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn tiền bồi thường là 205.197.300 VND (Hai trăm lẻ năm triệu một trăm chín mươi bảy ngàn ba trăm đồng).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Bị đơn phải chịu toàn bộ phí trọng tài của vụ tranh chấp này là 24.600.000 VND. Do nguyên đơn đã nộp toàn bộ chi phí trọng tài nên bị đơn phải hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền 24.600.000 VND (Hai mươi bốn triệu sáu trăm ngàn đồng).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ khoản tiền nêu tại Mục 1 và Mục 2, Phần IV nêu trên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập phán quyết trọng tài này. Trường hợp bị đơn chậm thanh toán, bị đơn phải tiếp tục chịu lãi chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015, với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền chậm trả và thời gian chậm trả.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">4.Phán quyết trọng tài này được lập ngày 19/02/2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Phán quyết trọng tài này có giá trị chung thẩm, ràng buộc các bên và có hiệu lực kể từ ngày lập phán quyết.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Không đồng ý với phán quyết của Trọng tài, ngày 22/3/2018, bà T đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh với yêu cầu xem xét hủy toàn bộ nội dung Phán quyết trọng tài số 75/17 HCM ngày 19/02/2018 của VIAC với các lý do sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Thoả thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật và phán quyết của Trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Thủ tục trọng tài trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Hội đồng trọng tài sử dụng chứng cứ giả mạo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên họp hôm nay, người yêu cầu vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình. Người có quyền, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên ý kiến. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty R đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của bà T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Qua kiểm sát vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền giải quyết vụ án, Tòa án có quyết định mở phiên họp và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng mở phiên họp: Tại phiên họp hôm nay, phiên họp tiến hành đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Việc chấp hành pháp luật của các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Về nội dung: Không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Mai T về việc hủy phán quyết trọng tài.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1 ] Sau khi xem xét toàn bộ tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên họp; nghe ý kiến tranh luận của các đương sự; nghe ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét đơn nhận định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Về thủ tục tố tụng:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Về thời hiệu nộp đơn yêu cầu: Ngày 19/02/2018 là ngày công bố Phán quyết trọng tài vụ kiện số 75/17 HCM. Ngày 27/02/2018, bị đơn nhận được phán quyết trọng tài và ngày 22/3/2017, bà Đỗ Thị Mai T nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh hủy phán quyết trọng tài là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Hội đồng xét đơn nhận định các lý do của bà Đỗ Thị Mai T đưa ra để hủy phán quyết trọng tài như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Lý do “Thoả thuận trọng tài vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật” và “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”. Xét thấy, căn cứ Điều 13 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 quy định: “Trong trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định của Luật này hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối những vi phạm trong thời hạn do Luật này quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài hoặc Tòa án”. Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 hướng dẫn Luật Trọng tài thương mại do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp một bên phát hiện có vi phạm quy định hoặc của thỏa thuận trọng tài mà vẫn tiếp tục thực hiện tố tụng trọng tài và không phản đối với Hội đồng trọng tài, Trung tâm trọng tài những vi phạm đó trong thời hạn do Luật Trọng tài thương mại quy định thì mất quyền phản đối tại Trọng tài, hoặc tại Tòa án đối với những vi phạm đã biết đó. Trường hợp Luật Trọng tài thương mại không quy định thời hạn thì thời hạn được xác định theo thỏa thuận của các bên hoặc quy tắc tố tụng trọng tài” và “Trường hợp Tòa án xác định vi phạm đã mất quyền phản đối quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại khoản 1 Điều này thì bên đã mất quyền phản đối không được quyền khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài, yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đối với những vi phạm đã mất quyền phản đối đó. Tòa án không được căn cứ vào các vi phạm mà một hoặc các bên đã mất quyền phản đối để quyết định chấp nhận yêu cầu của một hoặc các bên”. Điều 9 Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC có hiệu lực từ ngày 01/3/2017 quy định: “Trong trường hợp bị đơn cho rằng thỏa thuận trọng tài không tồn tại, thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì bị đơn phải nêu rõ trong Bản tự bảo vệ. Nếu bị đơn không nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ thì bị đơn mất quyền phản đối”. Trong Bản tự bảo vệ đề ngày 04/12/2017 của bà T cũng như trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, bà T không hề đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thoả thuận trọng tài. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thoả thuận trọng tài theo quy định nêu trên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Bên cạnh đó, bà T cho rằng NDA vi phạm quy định về quyền làm việc của người lao động, vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Việc làm năm 2013 mà Hội đồng trọng tài vẫn công nhận NDA là Hội đồng trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật của người lao động cũng như điều cấm tại Luật Việc làm năm 2013. Xét thấy tại Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Trong trường hợp này, giữa bà T với Công ty R đã tự nguyện ký kết, khi ký bà T là người có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, không bị ép buộc, lừa dối hay áp đặt ý chí để bà T phải chấp nhận ký NDA. Do đó, NDA có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của NDA là hoàn toàn đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[7] Lý do hủy phán quyết trọng tài vì “Thủ tục trọng tài trái với các quy định của Luật Trọng tài thương mại”. Bà T cho rằng thủ tục trọng tài trái với quy định của Luật Trọng tài thương mại bởi: “Phán quyết đã được lập vào ngày thứ 31 kể từ ngày diễn ra phiên họp của Hội đồng trọng tài” và “Phán quyết trọng tài đã không được gửi đến bà ngay sau ngày ban hành tức phải ngày 20/01/2018”. Căn cứ khoản 5 và khoản 6 Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó” và “Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó”. Phiên họp cuối cùng giải quyết vụ tranh chấp giữa Công ty R và bà T được tổ chức vào ngày 19/01/2018, tuy nhiên do ngày 18/02/2018, ngày thứ 30 kể từ ngày diễn ra Phiên họp cuối cùng là ngày Chủ nhật, tức ngày nghỉ cuối tuần, nên Hội đồng trọng tài ban hành phán quyết vào ngày 19/02/2018 là vẫn còn trong thời hạn theo quy định viện dẫn nêu trên. Ngày 20/02/2018 và 21/02/2018 là ngày nghỉ lễ Tết Nguyên đán, nên theo quy định tại khoản 5 Điều 148 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hạn gửi phán quyết không thể kết thúc vào các ngày này, mà kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày làm việc tiếp theo, tức ngày 22/02/2018. Do đó, phán quyết được gửi cho các bên trong ngày 22/02/2018 là vẫn còn trong thời hạn quy định tại Luật Trọng tài thương mại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[8] Lý do “Vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Hội đồng trọng tài”: Bà T cho rằng “Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Tòa án giải quyết”. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”. Công ty R là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dung này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phần A, trang 5 và Phần C, trang 6 của phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tố tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T. Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[9] Lý do “Chứng cứ do các bên cung cấp mà Hội đồng trọng tài căn cứ vào đó để ra phán quyết là giả mạo”: Xét thấy, Công ty R đã cung cấp cho Hội đồng trọng tài và bà T: Thư xác nhận của Ngân hàng TNHH Một thành viên Z (Việt Nam) và Phiếu lương tháng liền kề trước hành vi vi phạm NDA của bà T. Các chứng cứ này là các tài liệu do Ngân hàng Z và Công ty R xác nhận nên không thể xem là giả mạo. Hơn nữa căn cứ khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại, đây là phần nội dung, không thuộc thẩm quyền của hội đồng xét đơn.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp có ý kiến: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu của bà T về việc hủy phán quyết trọng tài. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của hội đồng xét đơn nên chấp nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Từ những nhận định trên không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Mai T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[12] Căn cứ khoản 3 Điều 39 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành thì trường hợp của bà Đỗ Thị Mai T phải chịu lệ phí Tòa án, tuy nhiên trong phần danh mục lệ phí Tòa án thì lại không quy định rõ đối với loại việc yêu cầu hủy phán quyết trọng tài lệ phí là bao nhiêu. Vì vậy, bà Đỗ Thị Mai T không phải chịu lệ phí.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bởi các lẽ trên,</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ khoản 2 Điều 31, điểm a khoản 3 Điều 38, khoản 3 Điều 414 và Điều 415 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ khoản 1 Điều 5, điểm g khoản 2 Điều 7, khoản 2 Điều 16, Điều 60, khoản 2 Điều 68, khoản 1 Điều 69, Điều 71, Điều 72 Luật Trọng tài thương mại;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định Luật Trọng tài thương mại.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Không chấp nhận yêu cầu của bà Đỗ Thị Mai T về việc hủy Phán quyết trọng tài số 75/17 HCM của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC) lập ngày 19/02/2018 tại Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, tức ngày 12 tháng 6 năm 2018. Các bên, Hội đồng trọng tài không có quyền khiếu nại, kháng cáo, Viện kiểm sát không có quyền kháng nghị.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[8] &#8230; Bà T cho rằng “Tranh chấp về NDA là tranh chấp sẽ do Tòa án giải quyết ”. Căn cứ khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp của Trọng tài: Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại”. Công ty R là thương nhân, có đăng ký kinh doanh, có hoạt động thương mại theo Luật Thương mại năm 2005. Do đó, thỏa thuận trọng tài thuộc thẩm quyền giải quyết của VIAC và trọng tài theo quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật Trọng tài thương mại. Nội dung này đã được Hội đồng trọng tài kết luận tại Phiên họp ngày 19/01/2018 (Phần A, trang 5 và Phần C, trang 6 của phán quyết). Khoản 4 Điều 35 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Trường hợp bị đơn cho rằng vụ tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Trọng tài, không có thoả thuận trọng tài, thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được thì phải nêu rõ điều đó trong bản tự bảo vệ”. Trong khi đó, tại Bản tự bảo vệ cũng như trong suốt quá trình tố tụng trọng tài, bà T không đưa ra bất cứ phản đối nào đối với thẩm quyền của Trọng tài mà vẫn tiếp tục tố tụng trọng tài, vẫn tham gia phiên họp giải quyết tranh chấp. Như vậy, bà T đã mất quyền phản đối về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài theo quy định tại Điều 13 Luật Trọng tài thương mại và hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP. Bên cạnh đó, bà T cho rằng tranh chấp giữa các bên là tranh chấp lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, vì NDA là một phần không thể tách rời của các Hợp đồng lao động giữa bà T và Công ty R. Tại đoạn 11 Bản luận cứ đề ngày 18/01/2018 của Luật sư bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của bà T tại VIAC và tại Phiên họp cuối cùng, Luật sư của bà T đã khẳng định lại quan điểm NDA hoàn toàn độc lập với các Hợp đồng lao động giữa Công ty R và bà T. Do đó, Hội đồng xét đơn xác định thỏa thuận NDA là một thỏa thuận độc lập, khi có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài như sự lựa chọn của các bên từ khi ký kết. ”</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-69-2023-al1-ve-tham-quyen-cua-trong-tai-thuong-mai-trong-viec-giai-quyet-tranh-chap-thoa-thuan-bao-mat-thong-tin-va-khong-canh-tranh/">ÁN LỆ SỐ 69/2023/AL1 Về thẩm quyền của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết tranh chấp thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-69-2023-al1-ve-tham-quyen-cua-trong-tai-thuong-mai-trong-viec-giai-quyet-tranh-chap-thoa-thuan-bao-mat-thong-tin-va-khong-canh-tranh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ÁN LỆ SỐ 68/2023/AL1 Về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-68-2023-al1-ve-quyen-nhan-di-san-bang-hien-vat-la-nha-o-cua-nguoi-thua-ke-la-nguoi-viet-nam-dinh-cu-o-nuoc-ngoai/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-68-2023-al1-ve-quyen-nhan-di-san-bang-hien-vat-la-nha-o-cua-nguoi-thua-ke-la-nguoi-viet-nam-dinh-cu-o-nuoc-ngoai/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 06:25:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7656</guid>

					<description><![CDATA[<p>ÁN LỆ SỐ 68/2023/AL1 Về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-68-2023-al1-ve-quyen-nhan-di-san-bang-hien-vat-la-nha-o-cua-nguoi-thua-ke-la-nguoi-viet-nam-dinh-cu-o-nuoc-ngoai/">ÁN LỆ SỐ 68/2023/AL1 Về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000;"><span style="font-size: 105%;"><strong>ÁN LỆ SỐ 68/2023/AL</strong><strong>1 </strong></span><span style="font-size: 105%;"><strong>Về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài</strong></span></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><em>Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm số 06/2019/DS-GĐT ngày 18/3/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án dân sự <em>“Tranh chấp thừa kế, đòi công sức đóng góp nuôi dưỡng, trông nom, bảo quản nhà, đất và đòi nhà, đất&#8221; </em>giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan H1; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 5 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người để lại di sản là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất chết trước ngày Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật. Tranh chấp về chia thừa kế tài sản được Tòa án giải quyết tại thời điểm Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án áp dụng Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 để giải quyết.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp có người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì người thừa kế được nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở khi đủ điều kiện nhận nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 và di sản có thể phân chia bằng hiện vật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điểm d khoản 1 Điều 169; Điều 186 Luật Đất đai năm 2013;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khoá của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài”; “Điều kiện nhận nhà ở”, “Luật áp dụng”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Vụ án yêu cầu chia thừa kế:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại đơn khởi kiện ngày 24/8/2009, ngày 24/9/2009; bổ sung ngày 22/10/2009 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cha mẹ bà là cụ Lý Vĩnh K, cụ Nguyễn Thị B chung sống với nhau có một người con chung là bà Nguyễn Túy H. Năm 1950, cụ K và cụ B không còn chung sống với nhau nữa. Sau đó, cụ K kết hôn với cụ Nguyễn Ngọc H2 và có một con chung là bà Lý Lan H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Nguồn gốc nhà, đất tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh là của cụ K, cụ H2. Cụ K chết năm 1978, cụ B chết năm 2000 và cụ H2 chết năm 2009. Cụ K, cụ B và cụ H2 chết không để lại di chúc.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Thực tế, Bản án dân sự phúc thẩm số 6/DS-PT ngày 26/6/1981, Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định khối tài sản chung của cụ K, cụ H2 là ngôi nhà 151B đường G (nay là đường N), phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời, đã chia cho cụ H2 được sở hữu toàn bộ hiện vật gồm ngôi nhà nêu trên (là tài sản gắn trên đất) và một số tư liệu sinh hoạt trong căn nhà và phải hoàn lại cho bên thừa kế một số tiền để được trọn quyền sở hữu ngôi nhà. Bản án chưa chia quyền sử dụng đất thổ cư theo bằng khoán điền thổ số 1947 có diện tích 500m<sup>2</sup> trên đất có căn nhà số 151B đường G và quyền sử dụng đất thổ cư theo bằng khoán điền thổ số 1948 có diện tích 440m<sup>2</sup> là tài sản chung của cụ K, cụ H2. Do đó, phần đất nêu trên vẫn là tài sản chung của cụ K, cụ H2.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Hai bằng khoán điền thổ số 1947 và số 1948 lập năm 1970 không còn phản ánh đúng với diện tích đất hiện tại, nên bà H và bà H1 thống nhất dùng bản vẽ hiện trạng căn nhà 151B do Tòa án yêu cầu cơ quan chức năng lập ngày 11/3/2011 và đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ làm cơ sở để xác định. Nay bà yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật, cụ thể yêu cầu chia và nhận hiện vật diện tích đất là 120m<sup>2</sup> (chiều ngang 7m giáp với hẻm 151B đường N và chiều dài 17,14m sát ranh đất nhà 151C đường N của ông Trần Quốc H3).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị đơn là bà Lý Lan H1 ủy quyền cho bà Huỳnh Thị Kim L đại diện trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bà thống nhất trình bày trên của bà H về quan hệ nhân thân của cụ Lý Vĩnh K, cụ Nguyễn Thị B và cụ Nguyễn Ngọc H2 và nguồn gốc nhà, đất tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ K, cụ H2 chết không để lại di chúc. Do vậy, bà đại diện cho bà Lý Lan H1 đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H yêu cầu được chia và nhận phần di sản thừa kế là diện tích đất 120m<sup>2</sup> (chiều ngang 7m giáp với hẻm 151B đường N và chiều dài 16,14m sát ranh đất nhà 151C đường N của ông Trần Quốc H3).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Vụ án đòi công sức, đóng góp nuôi dưỡng, trông nom bảo quản nhà đất:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Theo đơn đề ngày 29/01/2010 của ông Nguyễn Quang D và trong quá trình tố tụng bà Trần Thị Thu H4 đại diện theo ủy quyền trình bày.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Nguồn gốc đất tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh là của cụ Nguyễn Ngọc H2, cụ Lý Vĩnh K theo bằng khoán điền thổ số 1947, diện tích 500m<sup>2</sup>, liền kề với bằng khoán điền thổ số 1948, diện tích 440m<sup>2</sup>. Hai bằng khoán này, do cụ K và cụ H2 đứng tên sử dụng từ năm 1970.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ H2 là dì ruột của ông Nguyễn Quang D. Ông D sống với cụ K, cụ H2 tại căn nhà nêu trên từ năm 1971. Cụ H2 có một người con, có giấy khai sinh hợp pháp là bà Lý Lan H1. Sau khi cụ K chết, bà H1 xuất cảnh bất hợp pháp sang Hoa Kỳ từ năm 1978.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ H2 là người duy nhất trong nhà, thường xuyên đau yếu và khó bảo quản đất đai, nhà cửa và đề phòng trường hợp bị bệnh nặng, cụ H2 đề nghị ông D chuyển hộ khẩu về sống với cụ để bảo quản tài sản. Ông D đã chính thức chuyển hộ khẩu về nhà cụ H2 ngày 12/02/1985. Theo yêu cầu của cụ H2 thì năm 1984, ông D đã bán nhà số 524/27 đường K, phường B, quận P để chuyển về nhà 151B đường N giúp đỡ nuôi dưỡng và chăm sóc cụ H2 cho đến khi cụ H2 qua đời vào tháng 3/2009 tại căn nhà số 151B nêu trên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Năm 1998, cụ H2 xuất cảnh sang Hoa Kỳ theo diện đoàn tụ. Trước khi xuất cảnh, cụ H2 có ủy quyền cho ông D quản lý, sử dụng và chịu trách nhiệm trông coi nhà, đất nêu trên theo Hợp đồng ủy quyền lập tại Phòng Công chứng A Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/01/1998.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cuối năm 2006, cụ H2 về Việt Nam tạm trú tại căn nhà 151B đường N, phường M, quận P được 02 năm. Sau đó, cụ H2 muốn ở lại Việt Nam sinh sống, nên ông D có làm thủ tục bảo lãnh cho cụ H2 nhập hộ khẩu. Cụ H2 già yếu, thường xuyên đau ốm, một mình ông D chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa cụ H2 đi khám chữa bệnh. Ngày 21/3/2009 cụ H2 mất, một mình ông D phải lo toàn bộ ma chay, hỏa táng cho cụ H2 với số tiền là 26.000.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tháng 6/2009, ông D tình cờ phát hiện tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường M, quận P niêm yết Văn bản số 324/CC7 ngày 20/4/2009 của Phòng Công chứng K, Thành phố Hồ Chí Minh, đính kèm văn bản khai nhận di sản với nội dung, người đề nghị nhận di sản là bà H1 con của cụ K, cụ H2. Việc đề nghị nhận di sản, bà H1 không có thảo luận và nói với ông D bất cứ việc gì.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Nay ông D yêu cầu bà Lý Lan H1 phải chia cho ông D 180m<sup>2</sup> đất, là phần công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo ma chay cho cụ H2 và trông nom quản lý nhà đất gần 30 năm. Hơn nữa, bà H1 đang cư trú tại Hoa Kỳ, mang quốc tịch Hoa Kỳ và không sinh sống, làm việc tại Việt Nam nên ông D xin được nhận toàn bộ hiện vật và thanh toán giá trị cho bà H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại đơn phản tố ngày 29/7/2014 của bị đơn là bà Lý Lan H1 và trong quá trình tố tụng, bà Trần Ngọc Kim C là đại diện theo ủy quyền trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Về quan hệ huyết thống và nguồn gốc nhà số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, bà thống nhất với lời khai của nguyên đơn.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Năm 2009, sau khi cụ H2 qua đời, bà H1 đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản theo Văn bản khai nhận di sản số 10475 do Phòng Công chứng K, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận ngày 16/6/2009; đã kê khai trước bạ theo thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà, đất số 1543 của Chi cục thuế quận P ngày 22/6/2009. Khi tiến hành thủ lục khai nhận di sản, ông D cũng biết và không có ý kiến gì về việc khai nhận di sản của bà H1. Đồng thời, việc khai nhận di sản đã được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân phường M, quận P và cũng không nhận được bất kỳ một văn bản nào tranh chấp, khiếu nại liên quan đến căn nhà trên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Về chi phí mai táng cho cụ H2 thì bà H1 đã trả cho ông D số tiền 10.000.000 đồng, còn những khoản khác bà H1 không có nghĩa vụ phải trả cho ông D. Trong quá trình sử dụng nhà, đất thì ông D kinh doanh quán cà phê thu lợi nhuận từ năm 1985 đến nay.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Do đó, không đồng ý với yêu cầu của ông D đòi chia 180m<sup>2</sup> đất là công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo ma chay và trông nom quản lý nhà đất cho cụ H2. Đồng thời, yêu cầu ông Nguyễn Quang D và gia đình phải trả lại nhà đất trên cho bà Lý Lan H1 ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Hương L1, ông Nguyễn Quang D1, bà Huỳnh Thị Bích N đều thống nhất trình bày trên của ông Nguyễn Quang D.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định nhập vụ án số 345/2013/QĐST-DS ngày 29/3/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định nhập vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 111/2010/TLST-ST ngày 23/3/2010 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Đòi công sức đóng góp, nuôi dưỡng” giữa nguyên đơn là ông Nguyễn Quang D với bị đơn là bà Lý Lan H1 vào vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 16/2013/TLST-DS ngày 07/01/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Tranh chấp thừa kế” giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1/ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Túy H và bà Lý Lan H1 (có bà Huỳnh Thị Kim L đại diện theo ủy quyền) như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.1/ Xác định di sản thừa kế của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 chết để lại là quyền sử dụng đất 698,14m<sup>2</sup> tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.2/ Hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lý Vĩnh K là cụ Nguyễn Ngọc H2, bà Nguyễn Túy H và bà Lý Lan H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.3/ Bà Nguyễn Túy H được chia và nhận hiện vật diện tích đất 120m<sup>2</sup> chiều ngang 7m mặt tiền hẻm 151B đường N, phường M, quận P&#8230; theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH đo đạc bản đồ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 14/4/2011.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.4/ Bà Nguyễn Túy H được quyền liên hệ các cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa đất và đăng ký để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2/ Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quang D.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.1/ Xác định ông Nguyễn Quang D có công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nom quản lý nhà đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.2/ Ông Nguyễn Quang D được chia 120m<sup>2</sup> đất, có hình dạng chữ L, từ ngoài nhìn vào bên trái giáp ranh đất bà Nguyễn Túy H được chia và bên phải giáp ranh căn nhà chính 151B đường N, phường M, quận P theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH đo đạc bản đồ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 14/4/2011, là công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nom quản lý nhà đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.3/ Ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế của bà Lý Lan H1 bao gồm diện tích đất là 458,14m<sup>2</sup> và phần xây dựng (phần hiện trạng đất còn lại sau khi chia cho bà H và ông D) theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH đo đạc bản đồ thiết kế xây dựng kinh doanh dịch vụ Q lập ngày 11/3/2011 đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 14/4/2011, do bà H1 không đủ điều kiện đứng tên quyền sở hữu nhà, đất theo quy định.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.4/ Ông Nguyễn Quang D có trách nhiệm thanh toán cho bà Lý Lan H1 toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh do bà H1 được hưởng thừa kế là 23.476.516.675 đồng (hai mươi ba tỷ bốn trăm bảy mươi sáu triệu năm trăm mười sáu ngàn sáu trăm bảy mươi lăm đồng), trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 13/5/2015, bà Trần Ngọc Kim C là đại diện cho bị đơn kháng cáo không đồng ý chia cho ông D 120m<sup>2</sup> đất và giao cho bà H1 nhận toàn bộ hiện vật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 15/5/2015, bà Trần Thị Thu H4 là đại diện cho ông D kháng cáo yêu cầu định giá lại tài sản là nhà, đất tranh chấp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 20/5/2015, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm nêu trên theo thủ tục phúc thẩm với lý do: Bản án sơ thẩm tuyên cho ông D được nhận toàn bộ hiện vật do bà H1 được thừa kế của cụ K, cụ H2 và hoàn lại giá trị cho bà H1 là sai. Hơn nữa, phần quyết định tuyên ông D thanh toán cho bà H1 hưởng thừa kế là 23.476.516.675 đồng trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật là không đúng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2016/DS-PT ngày 21/4/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; chấp nhận kháng cáo (về việc định giá) của ông Nguyễn Quang D do bà Trần Thị Thu H4 là người đại diện theo ủy quyền; không chấp nhận kháng cáo của bà Lý Lan H1; sửa bản án sơ thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1/ Xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 là bà Nguyễn Túy H, bà Lý Lan H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2/ Xác định di sản thừa kế của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 chết để lại là quyền sử dụng đất 698,33m<sup>2</sup> tọa lạc tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng cụ H2 còn để lại phần giá trị căn nhà 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3/ Xác định ông Nguyễn Quang D có công sức đóng góp đối với việc nuôi dưỡng, chăm sóc, lo toàn bộ ma chay cho cụ Nguyễn Ngọc H2 và trông nom quản lý nhà, đất tọa lạc tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tuyên xử:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Túy H và bà Lý Lan H1 (do bà Huỳnh Thị Kim L đại diện theo ủy quyền) như sau: Bà H được chia và nhận hiện vật diện tích đất 120m<sup>2</sup>, chiều ngang 7m mặt tiền hẻm 151B đường N, Phường M, quận P (tính từ ranh đất giáp nhà 151C đường N, phường M, quận P) và chiều dài 17,14 tiếp giáp ranh đất nhà số 151C đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, là nhà của ông Trần Quốc H3 theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH C đo vẽ đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 17/12/2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bà Nguyễn Túy H được quyền liên hệ các cơ quan chức năng có thẩm quyền để làm thủ tục tách thửa đất và đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2/ Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Quang D.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ông Nguyễn Quang D được chia công sức đóng góp, bảo quản, giữ gìn khối tài sản tương ứng bằng 120m<sup>2</sup> đất, có hình chữ L, từ ngoài nhìn vào bên trái giáp ranh đất bà Nguyễn Túy H được chia và bên phải giáp ranh căn nhà chính 151B đường N, phường M, quận P (có cạnh chiều ngang phía trước là 2,85m mặt tiền hẻm 151B đường N, phường M, quận P; cạnh chiều ngang phía sau là 9,85m; cạnh chiều dài 24,365m tiếp giáp căn nhà chính 151B đường N, phường M, quận P và chiều dài cạnh còn lại bên trái nhìn vào là 7,225m; theo bản vẽ hiện trạng do Công ty TNHH C đo vẽ và đã được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra bản vẽ ngày 17/12/2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3/ Ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế của bà Lý Lan H1 được hưởng bao gồm diện tích đất là 458,33m<sup>2</sup> và phân xây dựng nhà theo bản vẽ hiện trạng do Công ty trách nhiệm hữu hạn C đo vẽ, được Ủy ban nhân dân quận P kiểm tra ngày 17/12/2015. ông Nguyễn Quang D phải thanh toán cho bà Lý Lan H1 toàn bộ giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà tại số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh, mà bà H1 được hưởng thừa kế với số tiền là 15.822.085.210 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Lý Lan H1 có đơn đề nghị giám đốc thẩm đối với bản án dân sự phúc thẩm nêu trên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định số 06/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 18/10/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị đối với Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2016/DS-PT ngày 21/4/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và Bản án dân sự sơ thẩm số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần đòi công sức đóng góp nuôi dưỡng, trông nom, bảo quản nhà, đất; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kháng nghị về phần tố tụng và đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1 ] Tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H và bị đơn là bà Lý Lan H1 thống nhất chia cho bà H 120m<sup>2</sup> đất trong tổng số 698,33m<sup>2</sup> đất của cụ Lý Vĩnh K và cụ Nguyễn Ngọc H2 để lại. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự là phù hợp với quy định của pháp luật (nội dung này, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không kháng nghị).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Về việc định giá tài sản: Ngày 01/02/2016, Tòa án cấp phúc thẩm định giá lại nhà, đất tại 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không thông báo cho nguyên đơn và bị đơn biết là không đúng với quy định của pháp luật và trái với quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 (nay là khoản 4 Điều 104 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015). Tuy nhiên, tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao rút kháng nghị và không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về việc định giá tài sản trên, nên Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không xem xét.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Đối với việc tính công sức cho ông Nguyễn Quang D: Năm 1978, bà Lý Lan H1 xuất cảnh sang Hoa Kỳ, chỉ còn cụ Nguyễn Ngọc H2 sống tại nhà số 151B đường N, phường M, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo hồ sơ kê khai thì từ năm 1982, ông D (cháu ruột cụ H2) đã ở cùng cụ H2 tại nhà 151B đường N, phường M, quận P và đến năm 1985, ông D và các con đã chuyển hộ khẩu về ở tại địa chỉ này. Năm 1998, cụ H2 xuất cảnh sang Hoa Kỳ và đã làm giấy ủy quyền cho ông D quản lý, sử dụng căn nhà trên (Hợp đồng ủy quyền có chứng nhận của Phòng Công chứng A Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/01/1998). Đến năm 2007, cụ H2 trở lại định cư tại Việt Nam, ông D là người cam kết bảo lãnh cho cụ H2 làm thủ tục hồi hương về Việt Nam (Theo giấy cam kết của ông D ngày 17/12/2007 có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường M ngày 18/12/2007). Lúc này, cụ H2 tuổi đã cao, bà H1 xuất cảnh năm 1978 không ai trông nom cụ H2, nên ông D là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cụ H2 đến khi cụ H2 chết, ông D cũng là người đứng ra tổ chức lo toàn bộ ma chay (người đại diện theo ủy quyền của bà H1 cũng thừa nhận).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Như vậy, có cơ sở xác định ông D là người có công sức trông nom, bảo quản, giữ gìn khối tài sản trên; đồng thời, ông D cũng là người có công chăm sóc, nuôi dưỡng và mai táng cụ H2. Tuy nhiên, tại Tòa án các đương sự đều xác định khi ông D quản lý, sử dụng nhà 151B đường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh có kinh doanh quán bán cà phê thu lợi nhuận (Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh cá thể số 1657/HKD ngày 31/7/2000). Trong trường hợp này, lẽ ra phải làm rõ công sức bảo quản tài sản, khoản tiền chăm sóc, nuôi dưỡng và mai táng khi cụ H2 chết, đồng thời làm rõ thu nhập từ việc kinh doanh quán bán cà phê để từ đó xác định công sức của ông D cho phù hợp, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa làm rõ những vấn đề nói trên nhưng chia công sức bằng hiện vật là 120m<sup>2</sup> trong tổng số 698,33m<sup>2</sup> đất cho ông D (tương ứng một phần thừa kế như bà Nguyễn Túy H) là không có cơ sở, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Đối với việc giao hiện vật là phần thừa kế của bà Lý Lan H1 cho ông Nguyễn Quang D: Theo quy định tại khoản 3 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013: “Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam quy định tại khoản 1 Điều này thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định&#8230;”. Theo quy định tại khoản 4 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013: “Trường hợp trong số những người nhận thừa kế có người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam còn những người khác thuộc diện được nhận thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa phân chia thừa kế quyền sử dụng đất cho từng người nhận thừa kế thì những người nhận thừa kế hoặc người đại diện có văn bản ủy quyền theo quy định nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào sổ địa chính. Sau khi giải quyết xong việc phân chia thừa kế thì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì phân thừa kế được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều này”. Như vậy, nếu bà H1 không được quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng được quyền chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 để xác định bà H1 không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế của bà H1 bao gồm nhà, đất trên diện tích 485,33m<sup>2</sup> cho ông D và ông D thanh toán cho bà H1 giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà với số tiền 15.822.058.210 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm xét xử phúc thẩm Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực. Theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì bà H1 đủ điều kiện nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam. Do pháp luật thay đổi nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và giao toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế cho bà H1 mới đúng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Vì vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hủy một phần bản án dân sự phúc thẩm và một phần bản án dân sự sơ thẩm nêu trên về chia công sức đóng góp nuôi dưỡng, trông nom, bảo quản nhà đất và giao hiện vật để xét xử sơ thẩm lại, đúng quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên,</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ khoản 2 Điều 337, khoản 3 Điều 343 và Điều 345 của Bộ luật Tố tụng dân sự;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 06/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 18/10/2018 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm số 71/2016/DS-PT ngày 21/4/2016 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 409/2015/DS-ST ngày 05/5/2015 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữa nguyên đơn là bà Nguyễn Túy H với bị đơn là bà Lý Lan H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về chia công sức đóng góp, bảo quản giữ gìn khối tài sản tương ứng bằng 120m<sup>2</sup>đất cho ông Nguyễn Quang D và việc ông Nguyễn Quang D được nhận toàn bộ hiện vật của bà Lý Lan H1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, đúng quy định của pháp luật.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[5] &#8230; Như vậy, nếu bà H1 không được quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng được quyền chuyển nhượng hoặc được tặng cho quyền sử dụng đất thừa kế. Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 để xác định bà H1 không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giao toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế của bà H1 bao gồm nhà, đất trên diện tích 485,33m<sup>2</sup> cho ông D và ông D thanh toán cho bà H1 giá trị quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng nhà với số tiền 15.822.058.210 đồng là không đúng quy định của pháp luật. Mặt khác, tại thời điểm xét xử phúc thẩm Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực. Theo khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 thì bà H1 đủ điều kiện nhận thừa kế nhà ở tại Việt Nam. Do pháp luật thay đổi nên Tòa án cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm và giao toàn bộ hiện vật đối với phần thừa kế cho bà H1 mới đúng.”</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-68-2023-al1-ve-quyen-nhan-di-san-bang-hien-vat-la-nha-o-cua-nguoi-thua-ke-la-nguoi-viet-nam-dinh-cu-o-nuoc-ngoai/">ÁN LỆ SỐ 68/2023/AL1 Về quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-68-2023-al1-ve-quyen-nhan-di-san-bang-hien-vat-la-nha-o-cua-nguoi-thua-ke-la-nguoi-viet-nam-dinh-cu-o-nuoc-ngoai/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL1 Về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-67-2023-al1-ve-nguoi-duoc-nhan-hien-vat-khi-chia-tai-san-chung/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-67-2023-al1-ve-nguoi-duoc-nhan-hien-vat-khi-chia-tai-san-chung/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 06:18:43 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7650</guid>

					<description><![CDATA[<p>ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL1 Về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-67-2023-al1-ve-nguoi-duoc-nhan-hien-vat-khi-chia-tai-san-chung/">ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL1 Về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000; font-size: 105%;"><strong>ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL</strong><strong>1</strong> <strong>Về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung</strong></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><em>Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm số 40/2021/DS-GĐT ngày 23/6/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án dân sự &#8220;Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị Đ với bị đơn là anh Phạm Ngọc H; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 06 người.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 2, 3 và 4 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trong vụ án chia tài sản chung là quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất, một bên là người cao tuổi đã tạo lập, quản lý và sử dụng nhà đất ổn định, lâu dài, có nguyện vọng nhận nhà đất và thanh toán giá trị phần tài sản của người còn lại cho người đó. Nhà đất không thể chia được bằng hiện vật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án phải quyết định giao nhà đất cho người cao tuổi và người cao tuổi phải thanh toán giá trị phần tài sản của người còn lại cho người đó.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật có liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Điều 209 và Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khoá của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Người cao tuổi”; “Chia tài sản chung”; “Thanh toán giá trị”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>Theo đơn khởi kiện ngày 12/01/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cụ Nguyễn Thị Đ (bà Phạm Thị Hải Y đại diện theo ủy quyền) trình bày:</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vợ chồng cụ Phạm Ngọc T (chết năm 2014), cụ Nguyễn Thị Đ sinh được 05 người con chung là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2, ông Phạm Ngọc T3 (chết năm 2005). Ông T3 có con trai là anh Phạm Ngọc H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ Đ và cụ T tạo lập được thửa đất số 57-2, tờ bản đồ số 34, diện tích 62,68m<sup>2</sup> sử dụng riêng và 21,3m<sup>2</sup> sử dụng chung, tọa lạc tại tổ 1, xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 mang tên cụ Phạm Ngọc T, cụ Nguyễn Thị Đ; trên đất có ngôi nhà hai tầng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng M, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung với nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (con của ông Phạm Ngọc T3) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản là nhà đất nêu trên của hai cụ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng Q, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế với nội dung anh Phạm Ngọc H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất. Ngày 14/11/2019, cụ Đ và anh H được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m<sup>2</sup> đất (trong đó có 62,7m<sup>2</sup> sử dụng riêng và 21,3m<sup>2</sup> ngõ đi chung), thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, mang tên cụ Đ, anh H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ Đ khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung giữa cụ Đ với anh H; đề nghị được sử dụng nhà đất và thanh toán giá trị tài sản cho anh H số tiền là 1.400.000.000 đồng. Nếu anh H không đồng ý thì đề nghị Tòa án giải quyết theo giá của Hội đồng định giá đã xác định là 40.000.000 đồng/m<sup>2</sup> đất.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị đơn anh Phạm Ngọc H trình bày: Cụ Đ và gia đình anh hiện đang cùng sinh sống tại nhà đất này. Anh xác định, thửa đất không thể chia đôi theo hiện vật, anh có nguyện vọng được nhận nhà đất và thanh toán cho cụ Đ số tiền 1.500.000.000 đồng. Nếu cụ Đ muốn nhận nhà đất thì phải thanh toán cho anh với giá 75.000.000 đồng/m<sup>2</sup> tương đương 2.325.000.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2 thống nhất trình bày: Các bà không còn liên quan gì đến tài sản tranh chấp, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật, đảm bảo cho cụ Đ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội quyết định:</span></p>
<ol>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.</span></li>
</ol>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội có tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu 1/2 tài sản chung trị giá là 1.390.198.415 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chia tài sản chung của cụ Đ và anh H như sau: Giao cho cụ Đ được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (có sơ đồ hiện trạng nhà đất kèm theo bản án). Cụ Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh H 1/2 tài sản chung có trị giá là 1.390.198.415 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Phạm Ngọc H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quá trình giải quyết phúc thẩm, anh H vẫn đề nghị được nhận nhà đất và có nguyện vọng để cụ Đ ở cùng gia đình anh cho đến khi cụ qua đời.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Ngọc H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, cụ thể như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội, diện tích 84m<sup>2</sup>, trong đó có 62,7m<sup>2</sup>sử dụng riêng và 21,3m<sup>2</sup>ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu, sử dụng 1/2 tài sản chung có trị giá 1.390.198.415 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H cụ thể như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Anh Phạm Ngọc H được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp mang tên cụ Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Ngọc H).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Anh Phạm Ngọc H có nghĩa vụ thanh toán cho cụ Nguyễn Thị Đ 1/2 tài sản chung có giá trị là 1.390.198.415 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Anh Phạm Ngọc H có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia nêu trên theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ghi nhận sự tự nguyện của anh Phạm Ngọc H và chị Nguyễn Thị Thanh T4 tiếp tục để cụ Nguyễn Thị Đ sử dụng nhà tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội trên cho đến khi qua đời.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, trách nhiệm do chậm thi hành án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 10/QĐKNGĐT-VKS-DS ngày 01/02/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã kháng nghị Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử giám đốc thẩm theo hướng hủy bản án dân sự phúc thẩm nêu trên và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2020/DS-ST ngày 22/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Nhà đất thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Phạm Ngọc T, cụ Nguyễn Thị Đ, được Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2005 diện tích 62,68m<sup>2 </sup>sử dụng riêng và 21,3m<sup>2</sup> sử dụng chung mang tên cụ T, cụ Đ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng M, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung có nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (là cháu nội của hai cụ) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản nhà đất nêu trên của hai cụ. Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng Q, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất này và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m<sup>2</sup>, trong đó có 62,7m<sup>2</sup> sử dụng riêng (đo thực tế là 66,6m<sup>2</sup>) và 21,3m<sup>2</sup> ngõ đi chung (đo thực tế là 22,2m<sup>2</sup>), thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33 mang tên cụ Đ, anh H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2020, thửa đất số 57-2 phần diện tích đất sử dụng riêng có kích thước chiều rộng phía giáp ngõ đi chung là 3,56m; chiều rộng phía sau là 3,67m; trên đất có ngôi nhà 2,5 tầng và nhà cấp 4. Theo Văn bản số 1101/UBND-TTPTQĐ ngày 03/6/2020, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì xác định, thửa số 57-2 bị thu hồi diện tích là 11,2m<sup>2</sup>, diện tích sử dụng còn lại là 55,0m<sup>2</sup>.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng được nhận nhà đất và thanh toán giá trị cho nhau. Tuy nhiên, diện tích nhà đất có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Đ, cụ T tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ năm 1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh H mới chuyển đến sinh sống cùng cụ Đ và không tạo lập được tài sản nào trên đất. Cụ Đ cho rằng, thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ T là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2 đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ để cụ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T cho đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ sở hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung. Anh Phạm Ngọc H được hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở mới.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Như vậy, có căn cứ chấp nhận một phần kháng nghị theo hướng sửa Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 337, Điều 342, khoản 5 Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội. Sửa toàn bộ Bản án dân sự phúc thẩm số 438/2020/DS-PT ngày 24/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về vụ án “Tranh chấp chia tài sản chung” giữa nguyên đơn là cụ Nguyễn Thị Đ với bị đơn là anh Phạm Ngọc H, cụ thể như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Nguyễn Thị Đ đối với anh Phạm Ngọc H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Xác định tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội, diện tích 84m<sup>2</sup>, trong đó có 62,7m<sup>2</sup>sử dụng riêng và 21,3m<sup>2</sup>ngõ đi chung, tổng trị giá là 2.780.396.830 đồng. Cụ Đ và anh H mỗi người có quyền sở hữu, sử dụng 1/2 tài sản chung trị giá 1.390.198.415 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Chia tài sản chung của cụ Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Ngọc H, cụ thể như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ Nguyễn Thị Đ được sở hữu, sử dụng toàn bộ nhà đất tại thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33, địa chỉ tại tổ 1, khu xóm B, thị trấn V, huyện X, thành phố Hà Nội (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS 939809 ngày 14/11/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp mang tên cụ Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Ngọc H).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ Nguyễn Thị Đ có nghĩa vụ thanh toán cho anh Phạm Ngọc H 1/2 tài sản chung trị giá là 1.390.198.415 đồng (Một tỷ, ba trăm chín mươi triệu, một trăm chín mươi tám nghìn, bốn trăm mười lăm đồng).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cụ Nguyễn Thị Đ có quyền, nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh (hoặc đổi, cấp) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với tài sản được chia nêu trên theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">4.Án phí: Cụ Nguyễn Thị Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm và không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Anh Phạm Ngọc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 53.700.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bảy trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số 06808 ngày 05/8/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Trì, còn phải nộp số tiền là 53.400.000 đồng (Năm mươi ba triệu, bốn trăm nghìn đồng).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[2] Ngày 12/3/2012, tại Văn phòng công chứng M, cụ T và cụ Đ lập di chúc chung có nội dung cho cháu trai là anh Phạm Ngọc H (là cháu nội của hai cụ) có toàn quyền sử dụng, sang tên khối tài sản nhà đất nêu trên của hai cụ. Sau khi cụ T chết, ngày 26/10/2019, tại Văn phòng công chứng Q, cụ Đ và anh H lập Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế có nội dung anh H được hưởng toàn bộ phần di sản thừa kế của cụ T để lại; cụ Đ và anh H là đồng sở hữu, sử dụng diện tích nhà đất này và được Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất diện tích 84m<sup>2</sup>, trong đó có 62,7m<sup>2</sup> sử dụng riêng (đo thực tế là 66,6m<sup>2</sup>) và 21,3m<sup>2</sup> ngõ đi chung (đo thực tế là 22,2m<sup>2</sup>), thửa số 57-2, tờ bản đồ số 33 mang tên cụ Đ, anh H.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[3] Theo Biên bản xem xét và thẩm định tại chỗ ngày 14/5/2020, thửa đất số 57-2 phần diện tích đất sử dụng riêng có kích thước chiều rộng phía giáp ngõ đi chung là 3,56m; chiều rộng phía sau là 3,67m; trên đất có ngôi nhà 2,5 tầng và nhà cấp 4. Theo Văn bản số 1101/UBND-TTPTQĐ ngày 03/6/2020, Ủy ban nhân dân huyện Thanh Trì xác định, thửa số 57-2 bị thu hồi diện tích là 11,2m<sup>2</sup>, diện tích sử dụng còn lại là 55,0m<sup>2</sup>.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, cụ Đ và anh H đều có nguyện vọng được nhận nhà đất và thanh toán giá trị cho nhau. Tuy nhiên, diện tích nhà đất có nguồn gốc là của vợ chồng cụ Đ, cụ T tạo lập và hai cụ sinh sống trên đất từ năm 1980; sau khi cụ T chết, cụ Đ vẫn quản lý, sử dụng, thờ cúng cụ T; năm 2016, anh H mới chuyển đến sinh sống cùng cụ Đ và không tạo lập được tài sản nào trên đất. Cụ Đ cho rằng, thực tế cụ và anh H không thể tiếp tục sống chung nhà nên có nguyện vọng được nhận nhà và thanh toán tiền cho anh H; các con của cụ Đ, cụ T là bà Phạm Thị Lan A, bà Phạm Thị Hải Y, bà Phạm Thị T1, bà Phạm Thị T2 đề nghị giao nhà đất cho cụ Đ để cụ có chỗ ở, có nơi thờ cúng cụ T cho đến khi cụ qua đời. Xét thấy cụ Đ đã cao tuổi, sức yếu, có hạn chế trong việc thay đổi, tạo lập chỗ ở khác nên việc giao nhà đất cho cụ Đ sở hữu, sử dụng và cụ Đ thanh toán cho anh H số tiền 1.390.198.415 đồng như quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm là phù hợp với nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung. Anh Phạm Ngọc H được hưởng giá trị 1/2 tài sản chung nói trên đủ để tạo lập chỗ ở mới.&#8221;</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-67-2023-al1-ve-nguoi-duoc-nhan-hien-vat-khi-chia-tai-san-chung/">ÁN LỆ SỐ 67/2023/AL1 Về người được nhận hiện vật khi chia tài sản chung</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-67-2023-al1-ve-nguoi-duoc-nhan-hien-vat-khi-chia-tai-san-chung/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người”</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-66-2023-al-ve-viec-xac-dinh-toi-danh-mua-ban-nguoi/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-66-2023-al-ve-viec-xac-dinh-toi-danh-mua-ban-nguoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 06:16:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7648</guid>

					<description><![CDATA[<p>Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người” Án lệ số 66/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-66-2023-al-ve-viec-xac-dinh-toi-danh-mua-ban-nguoi/">Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người”</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000; font-size: 105%;"><strong>Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người”</strong></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><strong>Án lệ số 66/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bản án hình sự phúc thẩm số 86/2022/HS-PT ngày 17/02/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về vụ án “Mua bán người” đối với các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 3, 5 và 6 phần “Nhận định của Toà án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị cáo có hành vi lừa gạt, hứa hẹn về lợi ích với bị hại làm cho bị hại tin tưởng và tự nguyện theo bị cáo ra nước ngoài, sau đó bị cáo giao bị hại cho người khác để nhận tiền.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án phải xác định tội danh của bị cáo là tội “Mua bán người” mà không phải tội “Tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài trái phép”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật có liên quan:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điều 150 và Điều 349 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khoá của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Tội mua bán người”; “Lừa gạt”; “Lấy chồng nước ngoài”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng tháng 08/2019, qua mạng xã hội Facebook, Trịnh Thị H quen người phụ nữ tên T (khoảng 30 tuổi) người ở tỉnh Bạc Liêu, hiện đang sinh sống ở Trung Quốc. T cho H biết ở tỉnh Hà Nam &#8211; Trung Quốc có nhiều người đàn ông Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam, nếu ai có nhu cầu lấy chồng Trung Quốc thì giới thiệu, mỗi trường hợp đưa được người sang Trung Quốc, T sẽ trả cho H 04 vạn nhân dân tệ (khoảng 120.000.000đ).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi biết được thông tin, H đăng bài vào hội nhóm “Môi giới kết hôn Trung &#8211; Hàn &#8211; Việt” trên mạng xã hội Facebook với nội dung “Hiện có rể người Trung Quốc muốn lấy vợ Việt Nam có cô dâu nào thật lòng muốn lấy chồng, tìm kiếm hạnh phúc thì liên hệ” thì H được chị Bùi Thị N sinh năm 1991, trú tại xã Y, huyện G, tỉnh Hải Dương cũng là một trong những thành viên trong hội nhóm nhắn tin với nội dung “N có đứa em muốn lấy chồng Trung Quốc thì giúp đỡ”, đồng thời cho số điện thoại của chị N1 để trực tiếp liên lạc, hướng dẫn N1 kết hôn với người Trung Quốc.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 03/01/2020, H cùng Đặng Thị C (là mẹ nuôi H) đến nhà chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991, ở xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương trao đổi thông tin về việc kết hôn với người Trung Quốc, hướng dẫn N1 chuẩn bị các giấy tờ như: Hộ chiếu, sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, giấy xác nhận tình trạng độc thân để làm thủ tục cấp visa nhập cảnh vào Trung Quốc. Nếu chị N1 và gia đình đồng ý sẽ nhận được tiền sính lễ 60.000.000 đồng từ nhà rể bên Trung Quốc. Tuy nhiên, ông Nguyễn Văn T1 (bố đẻ chị N1) không đồng ý nên giữ lại các giấy tờ của chị N1. Chị N1 vì vẫn muốn sang Trung Quốc kết hôn nên liên lạc với H và được H hướng dẫn đến nhà Đặng Thị C để nói chuyện trực tiếp. Chiều ngày 03/01/2020, khi chị N1 đến nhà C, chị N1 gặp H và C, nhờ H tìm cách cho chị N1 đi sang Trung Quốc. H đã hướng dẫn chị N1 chuẩn bị căn cước công dân để H làm hộ chiếu cho N1 đi “chui” sang Trung Quốc, chị N1 đồng ý.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 06/01/2020, Trịnh Thị H nhờ anh Trần Văn H1 (chồng H) đón chị N1 ở khu vực cầu vượt 789, địa phận phường A, thành phố H, tỉnh Hải Dương lên thành phố Hà Nội làm hộ chiếu cho chị N1. Sáng ngày 07/01/2020, H tiếp tục nhờ anh H1 thuê xe taxi đưa chị N1 lên nhà nghỉ Y ở thành phố L, tỉnh Lạng Sơn. H không nói cho H1 biết mục đích việc làm hộ chiếu, thuê xe cho chị N1 đi Lạng Sơn.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 07/01/2020, H đưa cho C 4.500.000đ qua lái xe taxi (không nhớ tên, địa chỉ) để thanh toán tiền xe từ Hải Dương lên Lạng Sơn và thanh toán tiền nhà nghỉ, ăn uống của C và N1 ở nhà nghỉ Y, số tiền còn thừa C đổi được 300 nhân dân tệ để sử dụng chi phí trên đường đi đến tỉnh Hà Nam &#8211; Trung Quốc. Đồng thời, H cũng liên lạc với anh Vi Văn N2 là chủ nhà nghỉ Y nhờ xếp phòng nghỉ, thuê xe chở C, N1 đi đến tỉnh Hà Nam &#8211; Trung Quốc.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 08/01/2020, Trịnh Thị H đã đưa chị Nguyễn Thị N1 trốn sang Trung Quốc qua đường mòn biên giới thuộc huyện L1, tỉnh Lạng Sơn, còn C nhập cảnh vào Trung Quốc bằng hộ chiếu qua cửa khẩu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn. Đến điểm hẹn ở Trung Quốc, C và N1 tiếp tục đi xe ô tô đến tỉnh Hà Nam &#8211; Trung Quốc gặp mặt 01 người đàn ông Trung Quốc (không rõ tên) dự kiến cho chị N1 lấy làm chồng. Tuy nhiên, khi gặp mặt thì chị N1 không đồng ý, H bảo N1 ở lại nhà người đàn ông này chờ xem mặt rể khác, nếu không đồng ý N1 phải trả toàn bộ chi phí H đã bỏ ra để đưa N1 đi Trung Quốc. N1 đồng ý ở lại, nhưng do chờ lâu không xem mặt được người khác nên N1 đã đến nhà người quen ở tỉnh Quảng Tây &#8211; Trung Quốc rồi trình báo Công an Trung Quốc để được về Việt Nam. Ngày 26/3/2020, Trạm Kiểm tra biên phòng xuất nhập cảnh Đông Hưng &#8211; Quảng Tây &#8211; Trung Quốc bàn giao chị Nguyễn Thị N1 cho Đồn biên phòng cửa khẩu quốc tế Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2021/HS-ST ngày 05 tháng 4 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương quyết định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C phạm tội “Mua bán người”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trịnh Thị H. Xử phạt bị cáo Trịnh Thị H 09 (chín) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/10/2020.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 150, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Thị C. Xử phạt Đặng Thị C 07 (bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 30/9/2020.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trịnh Thị H, bị cáo Đặng Thị C phải liên đới bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm và tổn thất tinh thần cho chị Nguyễn Thị N1 số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng); trách nhiệm cụ thể bị cáo Đặng Thị C phải bồi thường 10.000.000đ (mười triệu đồng), bị cáo Trịnh Thị H phải bồi thường 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Ngày 16/4/2021, bị cáo Đặng Thị C có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Ngày 16/4/2021, bị cáo Trịnh Thị H có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Ngày 21/4/2021, bị hại là chị Nguyễn Thị N1 có đơn kháng cáo quá hạn với nội dung yêu cầu tăng mức bồi thường danh dự nhân phẩm, tổn thất tinh thần lên mức 80.000.000 đồng và yêu cầu bồi thường các khoản tổn thất khác là 100.000.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định giải quyết kháng cáo quá hạn số 36/2021/HSPT-QĐ ngày 17/7/2021, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã chấp nhận đơn kháng cáo của chị Nguyễn Thị N1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa phúc thẩm:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Các bị cáo và bị hại là chị Nguyễn Thị N1 do ông Nguyễn Văn T1 đại diện trình bày như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Các bị cáo C, H cùng trình bày nội dung như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Các bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật nên vô tình đã phạm tội, bản thân các bị cáo chỉ mong muốn giúp cho chị N1 lấy được chồng và chính chị N1 cũng mong muốn bị cáo giúp việc đó. Sau khi phạm tội, các bị cáo luôn thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, các bị cáo đều có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng vi phạm pháp luật; gia đình các bị cáo khó khăn, bản thân các bị cáo đều là lao động chính trong gia đình đang nuôi con nhỏ. Bị cáo C có bố mẹ đẻ được tặng thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen. Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Bị hại trình bày:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Xác nhận tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền 30 triệu đồng như bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên và bị hại tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm hình phạt cho các bị cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội, mức án áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền 30 triệu đồng như bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên và bị hại tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo, do có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo và áp dụng Điều 348, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo hướng giảm một phần hình phạt cho các bị cáo (giảm cho các bị cáo từ 6 tháng đến 01 năm tù).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ được thẩm tra công khai tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị hại và các bị cáo.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của các bị cáo, của chị N1, người làm chứng, Biên bản giao nhận người giữa Công an Móng Cái với tổ chức R, Giấy chứng nhận về nước của Trạm quản lý xuất nhập cảnh Móng Cái và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định bị cáo H và C đã thực hiện hành vi phạm tội như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] H biết đàn ông Trung Quốc có nhu cầu lấy phụ nữ Việt Nam làm vợ thông qua người tên là T, quê ở tỉnh Bạc Liêu lấy chồng người Trung Quốc. T nói với H môi trường hợp đưa được người sang Trung Quốc, T trả cho H 04 vạn nhân dân tệ (tương đương với 120.000.000đ tiền Việt Nam). H bàn và thống nhất với C: H có trách nhiệm tìm người, sắp xếp đi lại, ăn nghỉ, liên hệ người nhận bên Trung Quốc và giá cả, còn C phụ trách phiên dịch, đưa người sang Trung Quốc, giao người và nhận tiền về đưa cho H, tiền trả cho C sẽ thống nhất sau. Nội dung này tại phiên tòa cơ bản bị cáo H, C thừa nhận, chỉ khác so với giai đoạn điều tra là: Bị cáo H khai sau khi bố chị N1 không đồng ý cho N1 lấy chồng Trung Quốc thì H và C mới phân công nhau, C thì cho rằng do H nhờ C đưa chị N1 sang Trung Quốc chứ không bàn bạc gì. Như vậy H và C có động cơ, mục đích là đưa phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc giao cho T để T gả bán cho đàn ông Trung Quốc lấy làm vợ và được nhận tiền; H và C không có chức năng môi giới trong việc lấy vợ hoặc lấy chồng người nước ngoài, H và C không có ý thức đưa người khác trốn đi nước ngoài và trong vụ án này thì bị hại là chị N1 được các bị cáo C, H coi như một vật trao đổi để lấy tiền.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Để thực hiện mục đích trên, ngày 03/01/2020, H và C đến nhà chị N1 hỏi nguyện vọng và thuyết phục chị N1 sang Trung Quốc lấy chồng, bằng thủ đoạn: Nói với chị N1 việc đàn ông Trung Quốc rất chiều vợ, cuộc sống bên đó rất sung sướng. Nếu chị N1 nhất trí lấy chồng Trung Quốc thì sẽ cho chị N1 xem mặt chú rể và làm thủ tục kết hôn tại Việt Nam, chị N1 sẽ được số tiền sính lễ 60.000.000đ và còn được tiền gửi về cho gia đình. Nội dung này bị cáo H đều thừa nhận, còn bị cáo C tại phiên tòa công nhận là có nói đàn ông Trung Quốc chiều chuộng, cuộc sống sung sướng, các nội dung khác đều không biết. Chị N1 nghe H và C nói vậy nên mới đồng ý mặc dù bố mẹ chị N1 không nhất trí cho chị N1 lấy chồng Trung Quốc. Ngày 06/01/2020, H cho người đến đón chị N1 đi Hà Nội làm hộ chiếu. Ngày 07/01/2020, H bố trí đưa chị N1 lên Lạng Sơn, đồng thời làm visa, đưa tiền cho C, bắt xe cho C lên Lạng Sơn gặp chị N1 ở nhà nghỉ Y. Ngày 08/01/2020, H và C đưa chị N1 đi đến tỉnh Hà Nam &#8211; Trung Quốc giao chị N1 cho T2 (là người của T) và C nhận 1.000 nhân dân tệ (theo chị N1 cung cấp), số tiền còn lại chuyển H sau. Chị N1 bị người của T đưa đi gặp 01 người đàn ông dự kiến lấy làm chồng nhưng chị N1 không nhất trí vì không phải người mà H và C giới thiệu trong ảnh khi ở Việt Nam. Chị N1 biết là mình bị lừa nên liên hệ với gia đình và người quen ở Trung Quốc để làm thủ tục trình báo với cơ quan chức năng Trung Quốc. Ngày 26/3/2020, chị N1 được bàn giao cho lực lượng Biên phòng Việt Nam tại cửa khẩu Móng Cái &#8211; Quảng Ninh, trong văn bản có ghi bàn giao người bị bán sang Trung Quốc.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Như vậy, bị cáo H và C bằng thủ đoạn lừa nói với chị N1 rằng kết hôn với đàn ông Trung Quốc được gặp mặt chú rể, làm thủ tục kết hôn tại Việt Nam, được tiền sính lễ, cuộc sống sung sướng, được tiền gửi về gia đình&#8230; Chị N1 tưởng là thật nên đã đi theo C sang Trung Quốc và bị H, C bán lấy tiền. Bị cáo C trình bày bị cáo không được H cho biết nội dung cụ thể của việc đưa chị N1 sang Trung Quốc làm gì mà chỉ giúp H đi phiên dịch và cầm tiền về. Tuy nhiên tại các biên bản lấy lời khai, bản tự khai trong giai đoạn điều tra, C thừa nhận C và H bàn nhau đưa phụ nữ sang Trung Quốc lấy chồng để kiếm tiền và có sự phân công nhiệm vụ của từng người, việc đưa người sang Trung Quốc được 04 vạn nhân dân tệ, C và H không nói cho N1 biết; ngày 03/01/2020 ở nhà C, chị N1 bảo bố chị N1 không đồng ý nên không có đủ giấy tờ để lấy chồng Trung Quốc, H bảo chị N1 nếu không có giấy tờ thì dẫn chị N1 “đi chui” và bảo C đưa chị N1 đi thì C đồng ý, C bảo chị N1 nếu có giấy tờ sang đó sẽ tốt hơn; H2 ở Lạng Sơn là người chở chị N đi đường khác sang Trung Quốc. Tại phiên tòa, bị cáo C thừa nhận trong giai đoạn điều tra không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình, khai báo tự nguyện, đúng sự thật. Do đó, cơ cơ sở xác định giữa H và C có sự bàn bạc về việc đưa phụ nữ sang Trung Quốc bán kiếm lời, C biết chị N1 không có đủ giấy tờ hợp pháp nhưng vẫn đưa chị N1 sang Trung Quốc, giao cho người khác để nhận tiền, C trình bày trước đây làm giúp việc ở Macau nhưng chỉ ở trong nhà, không biết đường đi lối lại ở Trung Quốc nhưng vẫn nói với chị N1 rằng lấy chồng Trung Quốc sung sướng để dụ dỗ, lừa chị N1 đồng ý cho C và H đưa chị N1 đi.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Căn cứ vào hành vi các bị cáo đã thực hiện được mô tả như nêu trên, căn cứ vào hậu quả là chị N1 bị các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C đưa sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc để được nhận lợi ích vật chất là tiền. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Mua bán người” theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo theo khung hình phạt là phù hợp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[7] Xét kháng cáo của các bị cáo:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[8] Tòa án cấp sơ thẩm trong quá trình xét xử đánh giá vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó xác định bị cáo Trịnh Thị H có vai trò cao hơn bị cáo Đặng Thị C. Đồng thời, trên cơ sở đánh giá các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, thái độ ăn năn hối cải, hai bị cáo đều có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng vi phạm pháp luật, bị cáo C có bố mẹ đẻ được tặng thưởng Huân, Huy chương, Bằng khen; từ đó, áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo H cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo C là đúng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[9] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho người bị hại toàn bộ số tiền 30 triệu đồng như bản án sơ thẩm đã tuyên, bị hại trực tiếp nhận tại phiên tòa xác nhận là đúng và tự nguyện rút toàn bộ nội dung kháng cáo; đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho các bị cáo. Do tại phiên tòa có tình tiết giảm nhẹ mới áp dụng cho các bị cáo được quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đánh giá trong vụ án này thấy phía bị hại cũng có một phần lỗi khi tự nguyện để H và C đưa sang Trung Quốc nhằm mục đích kết hôn với đàn ông nước sở tại, hy vọng được đổi đời, có cuộc sống sung túc hơn. Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm cho các bị cáo một phần hình phạt là đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Xét kháng cáo của bị hại:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Tại phiên tòa hôm nay, bị hại, đại diện theo ủy quyền của bị hại thừa nhận đã nhận đủ số tiền 30 triệu đồng do các bị cáo bồi thường và tự nguyện xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo. Thấy đây là ý chí tự nguyện của phía bị hại nên Hội đồng xét xử trên cơ sở đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị hại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[12] Tổng hợp những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[13] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Các bị cáo, bị hại không phải chịu án phí phúc thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[14] Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 348, Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của chị Nguyễn Thị N1.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Tuyên bố các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C phạm tội “Mua bán người”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 150, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trịnh Thị H 08 (tám) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/10/2020.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 150, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 54, Điều 58 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Đặng Thị C 06 (sáu) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/9/2020.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Về trách nhiệm dân sự:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Xác nhận các bị cáo đã thực hiện xong việc bồi thường trách nhiệm dân sự cho bị hại số tiền 30 triệu đồng theo quyết định của bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Các bị cáo, bị hại không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">4.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“[3]&#8230; H và C có động cơ, mục đích là đưa phụ nữ Việt Nam sang Trung Quốc giao cho T để T gả bán cho đàn ông Trung Quốc làm vợ và được nhận tiền; H và C không có chức năng môi giới trong việc lấy chồng người nước ngoài, H và C không có ý thức đưa người trốn đi nước ngoài và trong vụ án này thì bị hại là chị N1 được các bị cáo C, H coi như một vật trao đổi để lấy tiền.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">…</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5]&#8230; giữa H và C có sự bàn bạc về việc đưa phụ nữ sang Trung Quốc bán kiếm lời, C biết chị N1 không có đủ giấy tờ hợp pháp nhưng vẫn đưa chị N1 sang Trung Quốc, giao cho người khác để nhận tiền, C trình bày trước đây làm giúp việc ở Macau nhưng chỉ ở trong nhà, không biết đường đi lối lại ở Trung Quốc nhưng vẫn nói với chị N1 rằng lấy chồng Trung Quốc sung sướng để dụ dỗ, lừa chị N1 đồng ý cho C và H đưa chị N1 đi.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Căn cứ vào hành vi các bị cáo đã thực hiện được mô tả như nêu trên, căn cứ vào hậu quả là chị N1 bị các bị cáo Trịnh Thị H và Đặng Thị C đưa sang Trung Quốc giao cho người đàn ông Trung Quốc để được nhận lợi ích vật chất là tiền. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Mua bán người ” theo điểm d khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo theo khung hình phạt là phù hợp.”</span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-66-2023-al-ve-viec-xac-dinh-toi-danh-mua-ban-nguoi/">Án lệ số 66/2023/AL về việc xác định tội danh “Mua bán người”</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-66-2023-al-ve-viec-xac-dinh-toi-danh-mua-ban-nguoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội &#8220;Mua bán người&#8221;</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-65-2023-al-ve-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-toi-mua-ban-nguoi/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-65-2023-al-ve-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-toi-mua-ban-nguoi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 04:59:05 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7644</guid>

					<description><![CDATA[<p>Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội &#8220;Mua bán người&#8221; Án lệ số 65/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-65-2023-al-ve-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-toi-mua-ban-nguoi/">Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội &#8220;Mua bán người&#8221;</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><span style="color: #ff0000; font-size: 105%;">Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội &#8220;Mua bán người&#8221;</span></strong></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;">Án lệ số 65/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bản án hình sự sơ thẩm số 42/2018/HSST ngày 03/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu về vụ án “Mua bán người” đối với các bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K, Dương Thị T1, Trần Ích C.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 9, 10 và 11 phần “Nhận định của Toà án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Tình huống án lệ:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị cáo thông qua trung gian đưa ra lời đề nghị với bị hại về một công việc nên bị hại nhận lời. Sau đó, bị cáo chuyển giao bị hại cho người khác, buộc làm công việc trái ý muốn của bị hại nhằm mục đích kiếm lời.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Giải pháp pháp lý:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán người”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Nghị quyết số 02/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 150 về tội mua bán người và Điều 151 về tội mua bán người dưới 16 tuổi của Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khoá của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Tội mua bán người”; “Chuyển giao người với mục đích kiếm lời”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Do nhu cầu cần người để giao cho các tàu đánh cá nhằm hưởng tiền chênh lệch nên bị cáo Dương Văn S đã liên kết với đối tượng tên G (không biết họ và địa chỉ cụ thể ở Thành phố Hồ Chí Minh) tìm người giao cho bị cáo S theo giá thỏa thuận. Đối tượng G đã dùng mạng xã hội Facebook đăng tuyển lao động (làm phụ xe khách đường dài) với mức lương cao. Các anh Bùi Văn D, Lê Đức M và Trần Văn T lên mạng xã hội Facebook tìm việc làm, thấy thông tin do G đăng tuyển nên liên hệ xin việc. Vào ngày 26/7/2017, 03 anh đến Bến xe miền Đông thì đối tượng G cho xe đón và đưa thẳng về nhà bị cáo S thuộc Ấp 1, thị trấn A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. G giao các anh D, T và M cho bị cáo S và nhận số tiền 09 triệu đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi nhận người, bị cáo S chỉ đạo cho bị cáo Phạm Hồng K lấy hợp đồng lao động cho các anh D, T và M ký tên với nội dung đi biển, do thỏa thuận ban đầu là đi làm lơ xe nên các anh không đồng ý ký tên. Lúc này các bị cáo S, K và C dùng hung khí (gồm dao tự chế, cây sắt và dao Thái Lan) đe dọa nếu không đồng ý ký hợp đồng thì trả 10.000.000 đồng, nếu không có thì phải bị giữ lại, các bị hại bị đưa vào nhà bà Hà Thị L (mẹ ruột của S) giữ lại. Bị cáo S phân công K và C thay phiên canh giữ, mục đích là để S tìm tàu đánh cá cần người thì sẽ giao nhằm hưởng tiền chênh lệch, đồng thời S giao cho Dương Thị T1 (là em gái S) trực tiếp kiểm tra việc canh giữ này.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trong quá trình giữ người, bị cáo S chỉ đạo cho các bị cáo K và T1 lấy các tài sản và các tư trang cá nhân của những bị hại cất giữ. Bị cáo T1 yêu cầu các anh D, T và M giao nhưng các anh không đồng ý nên bị cáo K cầm dao đe dọa “Tụi mày tự nguyện đưa hay để tao tự lấy”, do sợ vì biết được các bị cáo có hung khí nên các bị hại đã giao tài sản gồm: Ba lô, quần áo, 03 điện thoại di động, 03 cái ví bên trong có 03 giấy chứng minh nhân dân, 02 thẻ ATM mang tên Trần Văn T và Bùi Văn D. Sau khi lấy được tài sản, bị cáo K giao lại cho S và S lấy trong ví của anh M số tiền 700.000 đồng, trong ví của anh D số tiền 1.000.000 đồng, đưa cho C 120.000 đồng, đưa cho K 330.000 đồng, số tiền còn lại S giữ lấy tiêu xài cá nhân.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đến khoảng 22 giờ ngày 27/7/2017, anh M và anh T trốn ra khỏi nơi giam giữ bằng đường thông gió, đến sau đó, khoảng 05 giờ ngày 28/7/2017, anh D cũng trốn được. Cả 03 anh đến Đồn biên phòng Gành Hào trình báo sự việc.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quá trình làm việc tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan và hiện trường vụ án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Vật chứng vụ án gồm: Điện thoại di động, ví da, balo và quần áo các bị hại đã nhận lại đầy đủ; 01 cây dao có cán màu vàng dài 21 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 02 cm; 01 cây dao tự chế dài 49 cm, phần cán dao và lưỡi dao được làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 35 cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 03 cm; 01 thanh kim loại có dạng hình hộp chữ nhật, bên trong rỗng, một đầu thanh kim loại được quấn vải, chiều dài 63 cm, chiều rộng 04 cm, chiều cao 02 cm, hiện nay Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải đang quản lý. Số tiền 980.000 đồng Công an huyện Đông Hải gửi tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện Đ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Văn D yêu cầu bồi thường số tiền 1.000.000 đồng và anh Lê Đức M số tiền 700.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị cáo Trần Ích C đã khắc phục số tiền 1.700.000 đồng; các bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K và Dương Thị T1 mỗi bị cáo nộp khắc phục hậu quả số tiền 400.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản cáo trạng số 17/CT-VKSĐH ngày 09/04/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải truy tố bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K, Trần Ích C và Dương Thị T1 phạm tội “Mua bán người” theo quy định tại Điều 150 khoản 2 điểm đ của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Ngoài ra, đối với các bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K và Dương Thị T1 còn phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 135 khoản 1 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14. Đối với bị cáo Dương Văn S: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 phạt bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt từ 08 năm 06 tháng đến 10 năm tù. Đối với bị cáo Phạm Hồng K: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bị cáo từ 06 năm đến 07 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt từ 07 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Đối với bị cáo Dương Thị T1: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, tổng hợp hình phạt từ 04 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Đối với bị cáo Trần Ích C: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2, Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, phạt bị cáo từ 03 năm đến 04 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Lời nói sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, chỉ vì không biết chữ, khả năng nhận thức pháp luật kém nên dấn thân vào con đường phạm tội, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Về thủ tục tố tụng:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố và xét xử:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hải, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hải, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Về sự vắng mặt của bị hại:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Tại phiên tòa hôm nay, các bị hại vắng mặt, tuy nhiên xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có lời khai, nội dung khai rất rõ ràng, vì vậy việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[7] Nội dung vụ án:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[8] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[9] Do biết được các tàu đánh cá trên địa bàn huyện Đ cần nhiều người đi biển (ngư phủ) nên bị cáo Dương Văn S đã liên kết với đối tượng G tìm người cung cấp cho các chủ tàu để hưởng tiền chênh lệch.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Đối tượng tên G đã đưa lời đề nghị cần lao động làm lơ xe với mức lương cao nên các anh D, T và M nhận lời. Khi nhận được các bị hại, đối tượng G chở xuống giao cho bị cáo S và nhận số tiền 9.000.000 đồng. Bị cáo S đã chỉ đạo đồng bọn là các bị cáo K, T1 và C thay phiên canh giữ để bị cáo tìm tàu đánh bắt giao lại lấy tiền chênh lệch.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp và pháp luật quy định, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, các bị cáo nhận thức được việc mua bán người là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân và lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của các bị hại nên các bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo là người đủ năng lực pháp luật chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình gây ra.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[12] Hành vi của các bị cáo xảy ra từ tháng 7/2017 và được quy định tại tình tiết định khung tăng nặng “đối với nhiều người” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 119 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 có mức hình phạt từ 05 năm đến 20 năm, còn theo Bộ luật Hình sự năm 2015, hành vi thuộc tình tiết định khung “từ 02 người đến 05 người” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 150 có mức hình phạt từ 8 năm đến 15 năm là nhẹ hơn so với Bộ luật Hình sự năm 1999 nên cần áp dụng có lợi cho các bị cáo theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm h khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Do đó, hành vi nêu trên của các bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Mua bán người” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[13] Ngoài ra, trong quá trình giữ người, bị cáo S chỉ đạo bị cáo K và T1 dùng hung khí đe dọa lấy tư trang cá nhân và tài sản của các anh D, T và M gồm ba lô, quần áo, 03 điện thoại di động và 03 cái ví (bên trong ví của anh T có giấy chứng minh nhân dân mang tên anh T; bên trong ví của anh M có giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM mang tên anh M và số tiền 700.000 đồng; bên trong ví của anh D có giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM mang tên anh D và số tiền 1.000.000 đồng). Kết quả định giá tài sản các bị cáo chiếm đoạt có giá trị 10.300.200 đồng. Như vậy, tổng giá trị tài sản là 12.000.200 đồng. Như vậy, hành vi đe dọa dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản của người khác đối với các bị cáo S, T1 và K đã thỏa mãn yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[14] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[15] Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đối với tội “Mua bán người” mặc dù các bị hại không yêu cầu nhưng các bị cáo đã tự nguyện khắc phục được một phần hậu quả cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 được áp dụng cho các bị cáo. Bị cáo S và K có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 nên được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng trong điều luật. Đối với bị cáo T1 và C, mặc dù là đồng phạm nhưng giữ vai trò không đáng kể, lại phạm tội lần đầu, có hoàn cảnh khó khăn, bị tác động từ bị cáo S là anh ruột nên nhất thời phạm tội. Vì vậy, cần thiết áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng mức hình phạt thấp hơn khung liền kề của điều luật áp dụng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[16] Trong vụ án này, vai trò của bị cáo S là nguy hiểm, trực tiếp chỉ đạo các bị cáo khác thực hiện; bị cáo K là người giúp sức quyết liệt nhất, là người trực tiếp dùng hung khí nguy hiểm đe dọa đối với bị hại nên mức hình phạt áp dụng cho bị cáo S và K cao hơn bị cáo T1 và C. Với những phân tích trên, xét thấy cần có mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để có điều kiện giáo dục ý thức chấp hành pháp luật và tôn trọng quy tắc sống trong cộng đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[17] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thay các bị cáo là lao động tự do, điều kiện kinh tế còn khó khăn, do đó Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[18] Vật chứng trong vụ án gồm:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[19] Điện thoại di động, ví da, balo và quần áo, Cơ quan điều tra đã áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giao trả cho các bị hại là phù hợp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[20] Đối với số tiền 980.000 đồng, Công an huyện Đông Hải đã gửi tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện Đ, trong đó của bị cáo S 480.000 đồng, bị cáo K 500.000 đồng, số tiền này không có liên quan trong vụ án nên được giao trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, để đảm bảo thi hành án dân sự, cần tiếp tục quản lý để thi hành án sau này.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[21] Đối với 01 cây dao có cán màu vàng dài 21 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 02cm; 01 cây dao tự chế dài 49cm, phần cán dao và lưỡi dao được làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 35cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 03 cm; 01 thanh kim loại có dạng hình hộp chữ nhật, bên trong rỗng, một đầu thanh kim loại được quấn vải, chiều dài 63cm chiều rộng 04cm, chiều cao 02cm, các vật chứng trên không còn giá trị sử dụng nên áp dụng khoản 2 Điều 106 tịch thu tiêu hủy.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[22] Về trách nhiệm dân sự: Anh Bùi Văn D yêu cầu các bị cáo S, K và T1 bồi thường số tiền 1.000.000 đồng, anh Lê Đức M yêu cầu bồi thường số tiền 700.000 đồng. Tại phiên tòa, các bị cáo đồng ý bồi thường nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 586, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc các bị cáo Dương Văn S, Dương Thị T1 và Phạm Hồng K mỗi bị cáo bồi thường cho anh Bùi Văn D số tiền 333.400 đồng; các bị cáo Dương Văn S, Dương Thị T1 và Phạm Hồng K mỗi bị cáo bồi thường cho anh Lê Đức M số tiền 233.400 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[23] Bị cáo Dương Văn S, Dương Thị T1 và Phạm Hồng K mỗi bị cáo nộp 400.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải để khắc phục hậu quả cho các bị hại nên anh M được nhận 400.000 đồng, anh D được nhận 400.000 đồng, anh T được nhận 400.000 đồng. Bị cáo Trần Ích C đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 1.700.000 đồng, các bị hại anh T, anh M và anh D mỗi người được nhận 566.600 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[24] Xét thấy quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh mức hình phạt, các tình tiết tăng, giảm nhẹ và các vấn đề khác có liên quan trong vụ án là có căn cứ được chấp nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[25] Về án phí hình sự và dân sự: Bị cáo nộp theo quy định pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên;</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.Tuyên bố: Bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K, Trần Ích C và Dương Thị T1 phạm tội “Mua bán người”. Bị cáo Dương Văn S, Phạm Hồng K, Dương Thị T1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.1. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Dương Văn S 07 năm tù về tội “Mua bán người”;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Dương Văn S 01 năm 06 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng; thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/7/2017.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Phạm Hồng K 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán người”;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Phạm Hồng K 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành là 07 (bảy) năm. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/7/2017.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Dương Thị T1 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán người”;</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Áp dụng khoản 1 Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Dương Thị T1 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tổng hợp hình phạt hai tội bị cáo phải chấp hành là 04 (bốn) năm. Thời gian chấp hành phạt được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">1.4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 54; Điều 38; khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc hội. Xử phạt bị cáo Trần Ích C 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán người”. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 29/7/2017.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">2.Về trách nhiệm dân sự:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Áp dụng Điều 42 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 592 Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo Dương Văn S, Dương Thị T1 và Phạm Hồng K mỗi bị cáo bồi thường cho anh Bùi Văn D số tiền 333.400 đồng; các bị cáo Dương Văn S, Dương Thị T1 và Phạm Hồng K mỗi bị cáo bồi thường cho anh Lê Đức M số tiền 233.400 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngoài ra, anh Trần Văn T, anh Lê Đức M và anh Bùi Văn D mỗi người được nhận số tiền 966.600 đồng. Bị hại và bị cáo nhận và nộp tiền tại Chi cục thi hành án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">3.Vật chứng:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao có cán màu vàng dài 21 cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 02cm; 01 cây dao tự chế dài 49cm, phần cán dao và lưỡi dao được làm bằng kim loại, lưỡi dao dài 35cm (một bề được mài sắc), nơi rộng nhất của lưỡi dao là 03 cm; 01 thanh kim loại có dạng hình hộp chữ nhật, bên trong rỗng một đầu thanh kim loại được quấn vải, chiều dài 63cm, chiều rộng 04cm, chiều cao 02cm các vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hải đang quản lý.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đối với số tiền 980.000 đồng, Công an huyện Đông Hải đã gửi tại Ngân hàng N, chi nhánh huyện Đ, trong đó của bị cáo S 480.000 đồng, bị cáo K 500.000 đồng, tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">4.Về án phí hình sự sơ thẩm:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng tại Chi cục thi hành án. Án phí dân sự, bị cáo S, T1 và K mỗi bị cáo nộp 300.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chậm thi hành theo mức lãi suất quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án, theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“[9] Do biết được các tàu đánh cá trên địa bàn huyện Đ cần nhiều người đi biển (ngư phủ) nên bị cáo Dương Văn S đã liên kết với đối tượng G tìm người cung cấp cho các chủ tàu để hưởng tiền chênh lệch.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Đối tượng tên G đã đưa lời đề nghị cần lao động làm lơ xe với mức lương cao nên các anh D, T và M nhận lời. Khi nhận được các bị hại, đối tượng G chở xuống giao cho bị cáo S và nhận số tiền 9.000.000 đồng. Bị cáo S đã chỉ đạo đồng bọn là các bị cáo K, T1 và C thay phiên canh giữ để bị cáo tìm tàu đánh bắt giao lại lấy tiền chênh lệch.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của con người được Hiến pháp và pháp luật quy định, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, các bị cáo nhận thức được việc mua bán người là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi cá nhân và lợi dụng sự nhẹ dạ cả tin của các bị hại nên các bị cáo đã thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo là người đủ năng lực pháp luật chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình gây ra.”</span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-65-2023-al-ve-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-toi-mua-ban-nguoi/">Án lệ số 65/2023/AL về truy cứu trách nhiệm hình sự tội &#8220;Mua bán người&#8221;</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-65-2023-al-ve-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-toi-mua-ban-nguoi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>ÁN LỆ SỐ 63/2023/AL1 Về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-63-2023-al1-ve-xem-xet-quyet-dinh-hanh-chinh-co-lien-quan-den-hanh-vi-hanh-chinh-bi-khieu-kien/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-63-2023-al1-ve-xem-xet-quyet-dinh-hanh-chinh-co-lien-quan-den-hanh-vi-hanh-chinh-bi-khieu-kien/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 04:55:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<category><![CDATA[VĂN BẢN PHÁP LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7639</guid>

					<description><![CDATA[<p>ÁN LỆ SỐ 63/2023/AL1 Về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-63-2023-al1-ve-xem-xet-quyet-dinh-hanh-chinh-co-lien-quan-den-hanh-vi-hanh-chinh-bi-khieu-kien/">ÁN LỆ SỐ 63/2023/AL1 Về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="font-size: 105%; color: #ff0000;"><strong>ÁN LỆ SỐ 63/2023/AL</strong><strong>1 </strong><strong>Về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện</strong></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;"><em>Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 39/QĐ-CA ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm số 04/2018/HC-GĐT ngày 23/10/2018 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng về vụ án hành chính “<em>Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự đô thị và yêu cầu đòi bồi thường do hành vi cưỡng chế gây ra</em>” giữa người khởi kiện là ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L với người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 15 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Người khởi kiện khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính có liên quan đến quyết định hành chính nhưng chỉ có hành vi hành chính còn thời hiệu khởi kiện.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, Tòa án phải giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với hành vi hành chính và có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Điều 6, Điều 116 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khóa của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Thời hiệu khởi kiện”; “Xem xét quyết định hành chính có liên quan”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trước giải phóng, bố mẹ ông Lê Hữu H là cụ Lê Hữu T1 và cụ Công Tôn Nữ Hạnh D có tạo lập được một ngôi nhà và thửa đất tọa lạc tại 45/266 đường P, phường A, thành phố H (nay là thửa số 77, tờ bản đồ số 05, diện tích 234,3m<sup>2</sup>). Năm 1976, cụ T1 mất, ông H sống cùng mẹ tại ngôi nhà trên, đến năm 1981 thì cụ D chết, nên những người con của cụ là Lê Hữu H cùng những người đồng thừa kế là người tiếp tục quản lý và sử dụng. Năm 2003, ông H đồng ý để ông T về ở tại ngôi nhà 45/266 đường P.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đến năm 2008, ông H có lập giấy thỏa thuận cho ông T ở nhờ và hai bên thỏa thuận khi nào cần lấy lại nhà thì thông báo cho bên ở nhờ trước 01 tháng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đầu năm 2009, do cần lấy lại nhà nên ông H đã thông báo cho ông T 01 tháng để di chuyển đồ đạc và trả lại nhà. Tuy nhiên trong thời gian trên ông T không trả lại nhà mà vẫn tiếp tục sử dụng và ông H đã khởi kiện ông T bằng vụ án dân sự đòi lại nhà cho ở nhờ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 12/2011/DSPT ngày 19/12/2011, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng quyết định: Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hữu T và kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Ngọc L, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu “Đòi lại nhà cho ở nhờ” của ông Lê Hữu H đối với ông Lê Hữu T. Buộc vợ chồng ông Lê Hữu T và bà Lê Thị Ngọc L phải trả lại ngôi nhà tại 45/266 đường P, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cho các đồng thừa kế của cụ Lê Hữu T1 và cụ Công Tôn Nữ Hạnh D do ông Lê Hữu H làm đại diện nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Sau khi trả lại nhà nêu trên cho các đồng thừa kế của cụ Lê Hữu T1 và cụ Công Tôn Nữ Hạnh D, tháng 7/2012 vợ chồng ông Lê Hữu T tự ý xây dựng 01 ngôi nhà tạm (hiện trạng dựng khung, cột kèo đòn tay gỗ, diện tích 27,2m<sup>2</sup>) trái phép trên phần đất nêu trên của gia đình ông H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 22/7/2012, Ủy ban nhân dân phường A lập biên bản vi phạm hành chính và ngừng thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đối với hành vi nêu trên của vợ chồng ông T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 23/7/2012, Ủy ban nhân dân phường A nhận được đơn kiến nghị của ông Lê Hữu H về việc ông Lê Hữu T tự ý dựng nhà tạm trái phép trong khuôn viên của gia đình ông H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cùng ngày Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 28/QĐ-UBND về việc đình chỉ thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự đô thị và yêu cầu ông T trong thời hạn 03 ngày phải tự phá dỡ công trình vi phạm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Hết thời hạn theo Quyết định số 28/QĐ-UBND mà vợ chồng ông T vẫn không chấp hành và có hành vi tiếp tục hoàn thiện công trình.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 26/7/2012, Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định cưỡng chế số 30/QĐ-UBND về việc phá dỡ công trình vi phạm trật tự đô thị đối với vợ chồng ông T tại địa chỉ nhà đất nêu trên.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 22/11/2012, Ủy ban nhân dân phường A có Thông báo số 21/TB-UBND về việc đề nghị tháo dỡ ngôi nhà tạm dựng trái phép trong khuôn viên đất của gia đình ông Lê Hữu H gửi ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L với nội dung: yêu cầu gia đình ông (bà) Lê Hữu T chấp hành tháo dỡ ngôi nhà tạm dựng trái phép trên phần đất không thuộc quyền sử dụng của mình kể từ ngày nhận được thông báo cho đến hết ngày 28/12/2012. Nếu sau thời hạn nói trên, gia đình ông, bà vẫn cố tình không chấp hành tháo dỡ, Ủy ban nhân dân phường sẽ tổ chức cưỡng chế theo quy định pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trong khi cơ quan nhà nước chưa thực hiện việc cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trên thì tháng 3/2013, gia đình ông T tiếp tục xây dựng mới một ngôi nhà tạm khác, xây dựng các công trình phụ và xây tường trên phần đất không thuộc quyền sử dụng và không có giấy phép xây dựng của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 10/3/2013, Ủy ban nhân dân phường tiếp tục lập biên bản vi phạm hành chính đối với ông Lê Hữu T, nội dung: Buộc chủ công trình tự tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng, nhà tạm và hàng rào trên đất không thuộc quyền sử dụng và ban hành Quyết định đình chỉ thi công công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị số 01/QĐ-UBND ngày 11/3/2013, tại nhà số 45/266 đường P, tổ 2, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, hiện trạng xây dựng diện tích 28,7m<sup>2</sup>. Mặc dù Ủy ban nhân dân phường đã nhiều lần mời ông, bà đến làm việc để vận động gia đình chấp hành tự tháo dỡ công trình cũng như đã có văn bản yêu cầu gia đình ông, bà phải nghiêm chỉnh chấp hành các quyết định của Ủy ban nhân dân phường nhưng gia đình ông T không thực hiện và còn tiếp tục lén lút xây dựng hàng rào, hoàn thiện công trình vi phạm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 15/3/2013, Ủy ban nhân dân phường A ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự đô thị.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 18/3/2013, Ủy ban nhân dân phường A tiến hành giao Quyết định cưỡng chế số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 đối với hộ ông T, nhưng tại buổi giao nhận bà L (vợ ông T) đã xem nội dung quyết định cưỡng chế và bà không đồng ý nhận quyết này.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tuy nhiên sau đó, ông T vẫn không chấp hành Quyết định số 02/QĐ-UBND nêu trên và có đơn gửi Ủy ban nhân dân thành phố H đề nghị xem xét việc xây dựng nhà của ông tại địa chỉ 45/266 đường P, phường A.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 05/4/2013, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Văn bản số 820/UBND-KNTC, nội dung: Việc Ủy ban nhân dân phường A lập biên bản và ban hành Quyết định đình chỉ thi công và cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự của ông Lê Hữu T là đúng theo quy định và yêu cầu tháo dỡ nhà xây dựng trái phép trước ngày 15/4/2013.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Cùng ngày, Ủy ban nhân dân thành phố H ban hành Công văn số 780/UBND- KNTC gửi ông Lê Hữu T, nội dung: “<em>Để đảm bảo việc quản lý trật tự đô thị về xây dựng trên địa bàn Thành phố, UBND Thành phố yêu cầu ông thực hiện việc tháo dỡ toàn bộ công trình vi phạm trên đất không thuộc quyền sử dụng thuộc thửa 77 tọa lạc tại 266/45 đường P, phường A trước ngày 15/4/2013</em>”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 05/3/2014, Ủy ban nhân dân phường A mời hộ gia đình ông T đến Ủy ban nhân dân phường để thông báo cho ông T, bà L (vợ ông T) thời gian cưỡng chế (Thông báo số 29/TB-UBND ngày 05/3/2014) và bà L có ý kiến là bà đã nhận được Thông báo số 29/TB-UBND vào ngày 05/3/2014.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 10/3/2014, Ủy ban nhân dân phường A họp tổ dân phố 2, phường A về việc tổ chức cưỡng chế hộ ông Lê Hữu T xây dựng nhà trên đất chưa thuộc quyền sử dụng. Tại cuộc họp này hộ ông T không có tham dự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 12/3/2014, Ủy ban nhân dân phường A đã tiến hành cưỡng chế đối với công trình vi phạm của ông T. Quá trình cưỡng chế, Ủy ban nhân dân phường đã lập biên bản cưỡng chế, biên bản kiểm kê tài sản, biên bản tạm giữ tài sản, biên bản giao nhận tài sản có chữ ký xác nhận của bà Lê Thị Ngọc L (vợ của ông T) cùng các ban ngành có liên quan.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 31/3/2014, ông T có đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A và buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A bồi thường tổng số tiền 620.000.000 đồng do hành vi cưỡng chế gây ra.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2015/QĐST-HC ngày 21/5/2015, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định: “Đình chỉ giải quyết vụ án hành chính đã thụ lý số 02/2014/TLST-HC ngày 07/5/2014 về việc “Khởi kiện quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H”, giữa người khởi kiện ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L và người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lý do: “Vợ chồng ông T, bà L đã biết việc Chủ tịch UBND phường A ban hành quyết định hành chính nói trên vào ngày 18/3/2013. Thời gian từ lúc nhận biết quyết định từ ngày 18/3/2013 cho đến ngày khởi kiện là ngày 31/3/2014 là 01 năm 13 ngày. Như vậy, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 104 Luật Tố tụng hành chính thì đã hết thời hiệu khởi kiện nên cần phải đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 100, điểm đ khoản 1 và khoản 2 Điều 120, Điều 121 và Điều 122 của Luật Tố tụng hành chính”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định giải quyết việc kháng cáo số 02/2015/QĐPT-HC ngày 23/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định: Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2015/QĐST-HC ngày 21/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2018/KN-HC ngày 14-6-2018, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo số 02/2015/QĐPT-HC ngày 23/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2015/QĐST-HC ngày 21/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, buộc Tòa án nhân dân thành phố Huế thụ lý, giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L đề nghị buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A phải bồi thường thiệt hại do thực hiện hành vi cưỡng chế trái pháp luật gây ra.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng chấp nhận Kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Theo đơn khởi kiện ngày 31/3/2014, vợ chồng ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L nêu các vấn đề:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Khiếu kiện đối với Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị tại nhà số 45/266 đường P, phường A, thành phố H, do ông T, bà L làm chủ đầu tư xây dựng; ông bà cho rằng quyết định hành chính này là trái pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Khiếu kiện đối với hành vi cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H tại nhà số 45/266 đường P, phường A, thành phố H và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi cưỡng chế gây ra; ông bà cho rằng hành vi cưỡng chế này là trái pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Xem xét nội dung khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, thấy:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] 1) Về khiếu kiện đối với quyết định hành chính:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Ngày 15/3/2013, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H ban hành Quyết định số 02/QĐ-UBND về việc cưỡng chế tháo dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị tại nhà số 45/266 đường P, phường A, thành phố H do ông T, bà L làm chủ đầu tư xây dựng. Ngày 18/3/2013 cán bộ Ủy ban nhân dân phường A tiến hành giao quyết định này cho ông T, bà L. Việc giao quyết định được lập biên bản vào lúc 11 giờ 30 phút với sự có mặt của đại diện Ủy ban nhân dân phường, Mặt trận Tổ quốc, Tổ dân phố, cùng với 02 nhân chứng. Trong biên bản giao nhận thể hiện rõ số, ngày ban hành quyết định, nội dung cưỡng chế, bà L đã xem nội dung quyết định cưỡng chế nhưng không hợp tác, không ký vào biên bản và cho rằng việc cưỡng chế là không đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[7] Do đó, có cơ sở pháp lý xác định vào ngày 18/3/2013, vợ chồng ông T, bà L biết Quyết định số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[8] Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 104 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì thời hạn 1 năm (kể từ ngày biết được quyết định hành chính) để ông T, bà L thực hiện quyền khởi kiện đã kết thúc, nhưng ngày 31/3/2014 ông, bà mới khởi kiện nên Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện Quyết định hành chính số 02 nêu trên đã hết là có căn cứ, đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[9] 2) Về khiếu kiện đối với hành vi hành chính:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Ngày 12/3/2014, Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A thực hiện hành vi cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị tại nhà số 45/266 đường P, phường A, thành phố H.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Ngày 31/3/2014, ông T, bà L làm đơn khởi kiện đối với hành vi cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A và yêu cầu bồi thường thiệt hại 620.000.000 đồng do hành vi cưỡng chế gây ra.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[12] Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 104 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 thì đơn của ông T, bà L còn trong thời hiệu khởi kiện, cần phải được giải quyết theo quy định của pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[13] Xét thấy:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[14] Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định thời hiệu khởi kiện đối với quyết định hành chính đã hết là đúng pháp luật nhưng không tiếp tục giải quyết khiếu kiện đối với hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A (mà đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định hành chính số 02/QĐ-UBND ngày 15/3/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A và trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện) là không đúng pháp luật, giải quyết như vậy là chưa đầy đủ và toàn diện đối với yêu cầu khởi kiện, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hành chính. Do đó cần chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo số 02/2015/QĐPT-HC ngày 23/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2015/QĐST-HC ngày 21/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế để xét xử sơ thẩm lại về khiếu kiện của ông T, bà L đối với hành vi cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi cưỡng chế gây ra nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[15] Do hành vi cưỡng chế xuất phát từ quyết định cưỡng chế và có mối liên hệ với nhau nên trong quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với hành vi cưỡng chế, Hội đồng xét xử có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định cưỡng chế nêu trên và các quyết định hành chính khác có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện mà không phụ thuộc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện, triệt để, đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên;</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 110%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ khoản 3 Điều 272; Điều 277 và Điều 278 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.</span></p>
<ol>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận Kháng nghị giám đốc thẩm số 01/2018/KN-HC ngày 14/6/2018 của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.</span></li>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Hủy Quyết định giải quyết việc kháng cáo số 02/2015/QĐPT-HC ngày 23/7/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế và Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 04/2015/QĐST-HC ngày 21/5/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Huế. Chuyển hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử sơ thẩm lại về khiếu kiện của ông Lê Hữu T, bà Lê Thị Ngọc L đối với hành vi cưỡng chế nhà số 45/266 đường P, phường A, thành phố H của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, thành phố H và yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi cưỡng chế gây ra theo đúng quy định của pháp luật.</span></li>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định.</span></li>
</ol>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[15] Do hành vi cưỡng chế xuất phát từ quyết định cưỡng chế và có mối liên hệ với nhau nên trong quá trình giải quyết yêu cầu khởi kiện đối với hành vi cưỡng chế, Hội đồng xét xử có quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định cưỡng chế nêu trên và các quyết định hành chính khác có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện mà không phụ thuộc các quyết định này còn hay hết thời hiệu khởi kiện nhằm đảm bảo vụ án được giải quyết toàn diện, triệt để, đúng pháp luật.”</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-63-2023-al1-ve-xem-xet-quyet-dinh-hanh-chinh-co-lien-quan-den-hanh-vi-hanh-chinh-bi-khieu-kien/">ÁN LỆ SỐ 63/2023/AL1 Về xem xét quyết định hành chính có liên quan đến hành vi hành chính bị khiếu kiện</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-63-2023-al1-ve-xem-xet-quyet-dinh-hanh-chinh-co-lien-quan-den-hanh-vi-hanh-chinh-bi-khieu-kien/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phê chuẩn khởi tố đối tượng lừa đảo bán hàng qua mạng</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 03:46:35 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[TIN TỨC PHÁP LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7632</guid>

					<description><![CDATA[<p>Ngày 27/2, VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương cho biết, đơn vị đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Thị Hà (SN 1993, trú phường Trạm Lộ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, hiện đang sinh sống tại thôn Đông Giao, xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng) về...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang/">Phê chuẩn khởi tố đối tượng lừa đảo bán hàng qua mạng</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #000000;"><strong><span style="font-size: 105%;">Ngày 27/2, VKSND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương cho biết, đơn vị đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Thị Hà (SN 1993, trú phường Trạm Lộ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, hiện đang sinh sống tại thôn Đông Giao, xã Lương Điền, huyện Cẩm Giàng) về tội &#8220;Lừa đảo chiếm đoạt tài sản&#8221;, quy định tại khoản 1, Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.</span></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000;"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-7633" src="http://lpc-law.vn/wp-content/uploads/2024/02/capture.png" alt="" width="710" height="492" srcset="https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2024/02/capture.png 710w, https://dlaw.com.vn/wp-content/uploads/2024/02/capture-300x208.png 300w" sizes="(max-width: 710px) 100vw, 710px" /></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #0000ff;"> <em>Đối tượng Phạm Thị Hà.Ảnh CAHD.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000;">Trước đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng nhận được đơn tố giác tội phạm của anh N.T.H, (SN 1978, trú tại quận Hoàng Mai, TP Hà Nội) về việc anh H. bị một đối tượng sử dụng tài khoản Facebook “Hoàng Đại Ka” lừa đảo chiếm đoạt số tiền 3.500.000 đồng bằng hình thức mua hàng qua mạng.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Sau khi tiến hành xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Giàng xác định, đối tượng thực hiện hành vi trên là Phạm Thị Hà. Khoảng năm 2019, Hà có cửa hàng kinh doanh đồ gỗ và sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook tên “Hoàng Đại Ka” để bán hàng. </span></p>
<p><span style="color: #000000;">Đến đầu năm 2022, do kinh doanh không có lãi, Hà nảy sinh ý định sử dụng tài khoản cá nhân tham gia vào các hội nhóm cộng tác viên trên mạng, lấy hình ảnh sản phẩm tượng gỗ của những tài khoản khác rồi đăng lên rao bán. Nếu có khách hỏi mua, Hà sẽ yêu cầu khách chuyển tiền cọc hoặc chuyển tiền thanh toán toàn bộ vào tài khoản cá nhân để chiếm đoạt.</span></p>
<p><span style="color: #000000;">Tháng 8/2023, thông qua mạng xã hội, anh N.T.H đặt mua của Hà 5 bức tượng gỗ với giá 3.500.000 đồng. Trong quá trình thoả thuận, Hà yêu cầu anh H. phải thanh toán toàn bộ tiền mua tượng gỗ bằng hình thức chuyển khoản. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền, Hà đã rút tiền ra, sử dụng tiêu xài cá nhân và không giao hàng cho anh H như đã thỏa thuận. Tại Cơ quan Công an, Phạm Thị Hà đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. </span></p>
<p>Nguồn: <a href="https://baovephapluat.vn/cong-to-kiem-sat-tu-phap/khoi-to/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang-153918.html">https://baovephapluat.vn/</a></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang/">Phê chuẩn khởi tố đối tượng lừa đảo bán hàng qua mạng</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/phe-chuan-khoi-to-doi-tuong-lua-dao-ban-hang-qua-mang/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tính tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.</title>
		<link>https://dlaw.com.vn/an-le-so-64-2023-al-ve-dinh-khung-hinh-phat-va-tinh-tiet-dinh-khung-tang-nang-co-to-chuc-trong-toi-bat-coc-nham-chiem-doat-tai-san/</link>
					<comments>https://dlaw.com.vn/an-le-so-64-2023-al-ve-dinh-khung-hinh-phat-va-tinh-tiet-dinh-khung-tang-nang-co-to-chuc-trong-toi-bat-coc-nham-chiem-doat-tai-san/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LPClaw]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Feb 2024 03:23:18 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Án Lệ]]></category>
		<category><![CDATA[VĂN BẢN PHÁP LUẬT]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://lpc-law.vn/?p=7627</guid>

					<description><![CDATA[<p>Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội &#8216;Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản&#8217; Án lệ số 64/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công...</p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-64-2023-al-ve-dinh-khung-hinh-phat-va-tinh-tiet-dinh-khung-tang-nang-co-to-chuc-trong-toi-bat-coc-nham-chiem-doat-tai-san/">Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tính tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><span style="color: #ff0000; font-size: 105%;"><strong>Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội &#8216;Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản&#8217;</strong></span></p>
<p><span style="color: #0000ff; font-size: 105%;">Án lệ số 64/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào ngày 18 tháng 8 năm 2023 và được công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01 tháng 10 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Nguồn án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Quyết định giám đốc thẩm số 15/2022/HS-GĐT ngày 04/10/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án hình sự “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Trần Văn N và đồng phạm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Vị trí nội dung án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Đoạn 7, 8, 12, 13 và 14 phần “Nhận định của Tòa án”.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Khái quát nội dung của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ 1:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bị cáo lên kế hoạch, chuẩn bị các công cụ, phương tiện phạm tội để bắt cóc bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng chưa chiếm đoạt được tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý 1:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”. Tòa án phải căn cứ vào giá trị tài sản bị cáo định chiếm đoạt để định khung hình phạt.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Tình huống án lệ 2:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trong số các bị cáo có bị cáo là người cầm đầu, khởi xướng, trực tiếp rủ các bị cáo khác tham gia việc bắt giữ bị hại nhằm chiếm đoạt tài sản, lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác; giữa các bị cáo có sự cấu kết chặt chẽ, thực hiện hành vi nhất quán theo sự chỉ đạo của bị cáo cầm đầu.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong><em>&#8211; Giải pháp pháp lý 2:</em></strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trường hợp này, các bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>Từ khóa của án lệ:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">“Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”; “Định khung hình phạt”; “Có tổ chức”.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG VỤ ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng tháng 8/2018, Trần Văn N cho anh Lưu Mạnh T vay 150.000.000 đồng nhưng đòi nợ nhiều lần anh T không trả và bỏ trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh nên N nảy sinh ý định lừa anh T ra Hà Nội để bắt giữ đòi nợ. N mượn tài khoản Zalo của Nguyễn Diệu L, mạo danh L để kết bạn, nói chuyện và hẹn anh T đi chơi ở huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc vào chiều ngày 15/01/2019.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 12/01/2019, N rủ L, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Văn Đ, Phan Văn Q tham gia bắt giữ anh T để đòi nợ; L, T1, Đ và Q đồng ý. N chuẩn bị 03 gậy rút (mỗi gậy dài khoảng 60cm), 01 bình xịt hơi cay, 01 bật lửa điện và 01 còng số 8.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 15/01/2019, N bảo Đ thuê xe taxi của anh Trịnh Anh T2 để chở N, L, Đ, Q, T1 ra sân bay Nội Bài. Trên xe, N bàn bạc cách thức bắt giữ anh T với L, Đ, Q và T1 nên anh T2 biết rõ việc các đối tượng trên đến sân bay bắt giữ anh T để đòi nợ. Trên xe, L nhận được điện thoại của anh T thông báo 19 giờ cùng ngày anh sẽ đến sân bay Nội Bài.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 15 giờ ngày 15/01/2019, T2 chở N, L, Đ, Q, T1 đến sân bay Nội Bài và thuê 02 phòng nghỉ gần sân bay. Tại đây, N và Đ nói cho T2 biết kế hoạch bắt giữ anh T, cụ thể: L sẽ thuê xe taxi khác đi trước đón anh T, T2 chờ mọi người theo sau; khi xe taxi của L và anh T dừng lại, T2 đỗ xe phía sau để mọi người chạy lên bắt giữ anh T. T2 đồng ý.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/01/2019, L đón anh T và thuê xe taxi đi theo hướng huyện A, tỉnh Vĩnh Phúc. T2 chở N, Đ, Q, T1 đi theo sau. Trên xe, N đưa cho Đ và T1 mỗi người 01 gậy rút, đưa cho Q 01 bình xịt hơi cay. Đi được khoảng 15 km thì xe taxi chở L và anh T dừng lại, xe của anh T2 dừng phía sau. N, Q, Đ, T1 xuống xe và chạy sang xe taxi của anh T. T1 đưa L sang xe của T2. N mở cửa sau bên trái, Đ mở cửa sau bên phải, Q mở cửa trước ghế phụ xe taxi của anh T và xịt hơi cay vào mặt anh T. N và Đ dùng gậy đánh anh T, N và Q dùng tay đấm vào mặt anh T đến khi anh T xin trả tiền nợ thì N, Q, Đ mới dừng lại. N và Đ giữ tay anh T, N đưa còng số 8 để Đ khóa một đầu vào tay phải của anh T, một đầu khóa vào gầm ghế lái. Đ lấy áo trùm đầu anh T và yêu cầu lái xe đi về hướng Bắc Ninh. Đến Bắc Ninh, N bảo T1 đưa anh T về giữ tại kho tập kết phế liệu của T1 một hôm. N sang xe của T1 và L (do anh T2 lái) đi trước; xe taxi chở Q, Đ và anh T đi theo sau. Đến nơi, Đ bảo lái xe taxi đi thẳng vào trong kho, xe của T2 đỗ ngoài cửa còn N và L đi vào trong kho. Khoảng 05 phút sau, T2 lái xe về trước, T1 đóng cửa kho lại. Q xuống xe cầm theo ba lô, anh T vẫn bị khóa trên xe taxi. N lấy và xóa hết tin nhắn, lịch sử cuộc gọi giữa anh T và L trên điện thoại của anh T. Q kiểm tra ví của anh T và giữ lại ví, thẻ ATM, CMND, còn số tiền 2.700.000 đồng Q trả lại cho anh T. Sau đó, N, Đ và Q đưa anh T xuống xe, đưa vào nhà vệ sinh. Q dùng còng số 8 khóa tay anh T, dùng dây trói 2 tay anh T ra phía sau, dùng băng dính quấn vào tay, bịt miệng anh T. N và Đ đi taxi về nhà N, N lấy đoạn dây xích dài khoảng 1,5m rồi đi mua đồ ăn và quay lại nhà kho. N trả tiền và lái xe taxi đi về. L, N, T1, Đ, Q và anh T ngồi ăn tại kho. Lúc ngồi ăn, Q bảo anh T trả tiền cho N thì sẽ được thả. Ăn xong, Q và Đ chuyển anh T ra góc kho bên phải, dùng băng dính buộc chân, tay bên trái của anh T, tay phải vẫn khóa bằng còng số 8 buộc với dây xích vào cột sắt trong kho để anh T không trốn hoặc tự tử được. Khoảng 24 giờ ngày 15/01/2019, N, T1 và L về còn Đ và Q ở lại kho trông giữ anh T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Trưa ngày 16/01/2019, N, T1, Đ, Q và L tập trung tại nhà kho. N đưa điện thoại bắt anh T gọi về nhà, bảo người nhà chuyển tiền vào tài khoản của anh T và rút tiền trả nợ cho N. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Đ gọi anh T2 đến nhà kho đón Đ. N dùng tay đấm vào mắt phải của anh T, đưa điện thoại bắt anh T gọi về nhà, yêu cầu gia đình chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản của anh T. Anh T gọi cho vợ cũ là chị Đàm Thị Phương L1, nói việc bị bắt giữ vì nợ tiền và nhờ chị L1 sang nhà bảo bố mẹ anh T đi vay tiền chuyển vào tài khoản của anh T thì anh mới được thả. Do đã ly hôn nên chị L1 không làm theo lời anh T. Anh T gọi cho cô ruột là bà Lưu Thị L2, nói đang nợ tiền, bị bắt, đánh, trói và bảo bà L2 nhắn bố mẹ anh T vay tiền cứu anh. Bà L2 đến nhà thông báo nhưng bố mẹ anh T không có tiền gửi. Anh T gọi cho bạn là Hoàng Thị L3, nói nợ tiền và đang bị giữ ở Bắc Ninh, nhờ chị L3 chuyển tiền để anh được thả về.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 14 giờ ngày 16/01/2019, không thấy người nhà anh T chuyển tiền nên Q dùng điếu cày đánh anh T. N cầm bình cứu hỏa ném về phía anh T, dùng chân đạp anh T. Tối cùng ngày, L thuê taxi về Hà Nội; N mượn xe ô tô cùng Đ, T đưa anh T về phòng trọ của Q. Q lấy dây xích trói anh T vào chân giường. Đ, T1 về.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Q giữ anh T từ ngày 17/01/2019 đến sáng ngày 18/01/2019. Ở phòng trọ của Q, anh T nhờ N chụp ảnh anh T bị đánh và trói gửi cho chị Hoàng Thị L3 và gọi cho chị Lưu Thị H (chị họ của anh T) để gia đình anh T tin và chuyển tiền vào tài khoản của anh T để trả nợ cho N. N bảo anh T nói với chị H, nếu không chuyển tiền trả nợ thì N chặt tay anh T nên chị H đồng ý lo tiền chuộc, trả nợ cho anh T.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 01 giờ ngày 19/01/2019, T2 chở Q, Đ, anh T ra nghĩa trang thôn X, xã Y, huyện P. Q và Đ dọa đốt anh T. Sau đó, T2 lái xe chở Q, Đ, anh T đến quán karaoke ở thôn A, xã Y1, huyện P. Q đưa anh T lên phòng 701 và trông giữ anh T, Đ và T2 đi về. Khoảng 08 giờ ngày 19/01/2019, Đ đến thay Q trông giữ anh T. Đ bắt anh T gọi điện về nhà yêu cầu chuyển tiền và kiểm tra tài khoản của anh T thì thấy có 38.928.049 đồng, trong đó: tiền có sẵn trong tài khoản là 23.928.049 đồng, tiền chị Lưu Thị H chuyển hồi 10 giờ 12 phút ngày 19/01/2019 là 10.000.000 đồng và hồi 10 giờ 30 phút ngày 19/01/2019 là 5.000.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Khoảng 11 giờ ngày 19/01/2019, Đ đưa anh T đến trụ sở Công an đầu thú. Sau đó, T2, N, T1, Đ đi đầu thú. Ngày 19/02/2019, Q ra đầu thú. Ngày 21/02/2019, L ra đầu thú.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HSST ngày 08/10/2019, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh áp dụng điểm e khoản 2 Điều 169; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Trần Văn N 42 tháng tù về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Phan Văn Q 36 tháng tù về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Nguyễn Văn Đ 36 tháng tù về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Nguyễn Diệu L 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Nguyễn Quang T1 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">&#8211; Trịnh Anh T2 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Ngày 21/10/2019, Trần Văn N, Phan Văn Q và Nguyễn Văn Đ kháng cáo xem xét lại tội danh, giảm hình phạt và cho các bị cáo hưởng án treo.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; áp dụng khoản 1 Điều 169, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, xử phạt Trần Văn N và Phan Văn Q 24 tháng tù, Nguyễn Văn Đ 24 tháng tù cho hưởng án treo, Nguyễn Diệu L, Nguyễn Quang T1, Trịnh Anh T2 18 tháng tù cho hưởng án treo cùng về tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC ngày 31/8/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn N, Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Diệu L và Trịnh Anh T2. Đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm hủy Bản án hình sự phúc thẩm nêu trên và Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HSST ngày 08/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần trách nhiệm hình sự của Trần Văn N, Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Diệu L và Trịnh Anh T2 để xét xử sơ thẩm lại theo hướng áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo, tăng hình phạt và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo chủ mưu, cầm đầu và thực hành tích cực.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Tại phiên tòa giám đốc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tối cao đề nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HSST ngày 08/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần trách nhiệm hình sự của Trần Văn N, Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Diệu L và Trịnh Anh T2 để xét xử sơ thẩm lại theo hướng áp dụng điểm a, e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự đối với tất cả các bị cáo, tăng hình phạt và không cho hưởng án treo đối với các bị cáo chủ mưu, cầm đầu và thực hành tích cực.</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[1] Về tội danh:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[2] Quá trình điều tra và tại các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[3] Vào khoảng tháng 8/2018, anh Lưu Mạnh T vay của Trần Văn N 150.000.000 đồng. Do nhiều lần đòi nợ nhưng anh T không trả và nghỉ việc, trốn vào Thành phố Hồ Chí Minh nên N đã nghĩ cách bắt giữ anh T để đòi nợ. Sau khi bàn bạc, các bị cáo Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Diệu L, Nguyễn Quang T1 và Trịnh Anh T2 đã đồng ý tham gia. Các bị cáo đã dùng dây trói, đánh, bắt nhốt anh T từ khoảng 19 giờ 20 phút ngày 15/01/2019 đến khoảng 11 giờ ngày 19/01/2019 để gây áp lực, nhằm mục đích buộc anh T phải thông báo cho gia đình chuyển 150.000.000 đồng vào tài khoản của anh T để trả nợ cho N.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[4] Hành vi nêu trên của các bị cáo N, Q, Đ, L, T1, T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 169 Bộ luật Hình sự. Việc Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm kết án các bị cáo theo tội danh này là có căn cứ, đúng pháp luật.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[5] Về hình phạt:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[6] Về tình tiết định khung tăng nặng tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[7] Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh Lưu Mạnh T nhằm gây áp lực để T phải gọi cho gia đình, người thân chuyển số tiền 150.000.000 đồng mà anh T đã vay của Trần Văn N vào tài khoản của anh T, trả nợ cho N thì anh T mới được thả về. Như vậy, mục đích của chuỗi hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh T mà các bị cáo thực hiện là nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của gia đình anh T. Việc chị Lưu Thị H (chị họ của anh T) mới chuyển vào tài khoản của anh T 02 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng và trong tài khoản của anh T có sẵn 23.928.049 đồng nhưng các bị cáo chưa buộc anh T rút số tiền này để đưa cho các bị cáo, không làm thay đổi mục đích chiếm đoạt ban đầu của các bị cáo là 150.000.000 đồng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[8] Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 150.000.000 đồng là mục đích chiếm đoạt của các bị cáo từ khi bắt đầu việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T. Các bị cáo phải bị xét xử về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[9] Về lập luận của Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng các bị cáo trong vụ án này chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự với lý do các bị cáo chưa chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của gia đình anh T, thì thấy: tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” là tội phạm có cấu thành hình thức. Do đó, thời điểm tội phạm hoàn thành là khi các bị cáo có hành vi bắt giữ anh Lưu Mạnh T, gây áp lực để gia đình anh T phải chuyển số tiền 150.000.000 đồng theo yêu cầu của các bị cáo vào tài khoản của anh T, để anh T rút trả nợ cho N thì anh T mới được thả. Tội phạm hoàn thành không phụ thuộc vào việc các bị cáo đã chiếm đoạt được số tiền 150.000.000 đồng này hay chưa? Tình tiết “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” là tình tiết định khung tăng nặng của khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự nên vẫn tuân theo nguyên tắc cấu thành hình thức của khoản 1, theo đó “số tiền chiếm đoạt” để định khung ở đây vẫn phải xem xét theo mục đích chiếm đoạt của các bị cáo khi thực hiện hành vi bắt giữ anh T. Việc Tòa án cấp phúc thẩm cho rằng cụm từ “nhằm chiếm đoạt tài sản” ở khoản 1 và cụm từ “số tiền chiếm đoạt” ở khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự phải được hiểu khác nhau, theo đó cụm từ “nhằm chiếm đoạt tài sản” ở khoản 1 được hiểu là chỉ cần các bị cáo có mục đích chiếm đoạt tài sản của gia đình người bị bắt cóc, còn thực tế có chiếm đoạt được hay không không ảnh hưởng đến cấu thành tội phạm; còn cụm từ “số tiền chiếm đoạt” ở khoản 2 được hiểu là phải chiếm đoạt được số tiền này trên thực tế thì mới cấu thành tội phạm ở khung tăng nặng là không có căn cứ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[10] Việc Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm cho rằng cần xét xử các bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, cần chấp nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[11] Về tình tiết định khung tăng nặng tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[12] Trong vụ án này, bị cáo Trần Văn N là người khởi xướng; trực tiếp rủ các bị cáo khác (Q, Đ, L, T1, T2) tham gia việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng mà anh T vay của N; trực tiếp chuẩn bị các công cụ, phương tiện phạm tội như còng số 8, dây trói, xịt hơi cay &#8230;; là người lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác từ việc dùng zalo của bị cáo L mạo danh để kết bạn, rủ anh T từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, chọn địa điểm đón anh T (sân bay Nội Bài), phân công L đi đón anh T, chọn địa điểm, thời gian để xe taxi chở L và anh T phải tạm dừng dọc đường để xe taxi chở N và đồng bọn tiếp cận, bắt giữ anh T, chọn địa điểm nhốt anh T, phân công người trông giữ anh T &#8230; do vậy, N là người tổ chức, cầm đầu, chủ mưu. Các bị cáo khác là người thực hành, giúp sức tích cực cho N trong kế hoạch bắt giữ anh T nhằm gây áp lực để gia đình anh T phải chuyển tiền theo yêu cầu của N vào tài khoản của anh T từ đó chiếm đoạt số tiền này, cấn trừ khoản nợ mà anh T đã vay của N trước đó. Giữa N và các bị cáo khác có sự cấu kết chặt chẽ, các bị cáo khác đều thực hiện nhất quán theo sự chỉ đạo của N. Hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh T nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của gia đình anh T của các bị cáo kéo dài từ ngày 12/01/2019 đến ngày 19/01/2019. Do đó, hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của phạm tội “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[13] Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử các bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” ở điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự mà chưa xem xét tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” như phân tích ở trên là thiếu sót.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[14] Việc Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[15] Về hình phạt:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[16] Vai trò của các bị cáo trong vụ án:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[17] Bị cáo Trần Văn N là người khởi xướng, giữ vai trò chủ mưu, cầm đầu.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[18] Các bị cáo Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ khi được bị cáo Trần Văn N rủ tham gia bắt giữ anh Lưu Mạnh T để đòi nợ đã giúp sức tích cực cho N, Q và Đ còn có hành vi bắt giữ, trói, đánh, đe dọa bị hại nên có vai trò thứ 2 sau N.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[19] Các bị cáo Nguyễn Quang T1, Trịnh Anh T2 có vai trò thứ 3 trong vụ án. Bị cáo Trịnh Anh T2 mặc dù không được bàn bạc từ trước nhưng tại nhà nghỉ gần sân bay Nội Bài, khi N bàn bạc về việc bắt anh T, T2 đã đồng ý và lái xe theo sự chỉ đạo của N.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[20] Bị cáo Nguyễn Diệu L có hành vi cho bị cáo Trần Văn N mượn tài khoản zalo để kết bạn, hẹn anh T từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội; tham gia đón và đưa anh Lưu Mạnh T đến điểm hẹn theo kế hoạch của N. Tuy nhiên, khi nhóm của N bắt giữ anh T thì L đã bỏ về Hà Nội và không tham gia nữa. Do đó, L giữ vai trò thấp nhất trong vụ án.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[21] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[22] Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[23] Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đều ra đầu thú, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại 20.000.000 đồng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo. Do đó, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[24] Bị cáo L, Q, T1 và T2 có bố, mẹ, ông, bà nội, ngoại được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[25] Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ có thêm tình tiết giảm nhẹ: có công tố giác 02 vụ án về cướp tài sản và trộm cắp tài sản được Công an huyện P, tỉnh Bắc Ninh ghi nhận. Bị cáo Trần Văn N xuất trình thêm tài liệu thể hiện bị cáo đang thờ cúng liệt sĩ, ông bà nội bị cáo được tặng thưởng nhiều huân, huy chương; bị cáo còn cung cấp thông tin để cơ quan điều tra bắt giữ đối tượng mua bán trái phép chất ma túy, bị cáo được chính quyền địa phương xác nhận đã tự nguyện tham gia tích cực trong phong trào chống dịch Covid 19.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[26] Về nhân thân: các bị cáo N, Q, Đ, L đều có nhân thân tốt. Bị cáo T1 và bị cáo T2 tuy từng bị xét xử nhưng đã được đương nhiên xóa án tích trước khi phạm tội trong vụ án này thời gian khá lâu.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[27] Về quyết định hình phạt:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[28] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng Thẩm phán thấy rằng:</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[29] Hành vi phạm tội của các bị cáo N, Q, Đ, L, T1, T2 trong vụ án này phải bị xem xét trách nhiệm hình sự theo các điểm a, e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[30] Việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo với 01 tình tiết định khung tăng nặng tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự, áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự (từ 05 năm đến 12 năm tù) là không nghiêm.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[31] Việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, xét xử các bị cáo theo khoản 1 Điều 169 Bộ luật Hình sự và giảm hình phạt cho tất cả các bị cáo là không có căn cứ.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">[32] Do sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt nên không thể xét xử phúc thẩm lại theo hướng tăng hình phạt, bất lợi cho các bị cáo. Vì vậy, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, hủy bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại, để xem xét toàn diện, khách quan tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo, từ đó trên cơ sở vị trí, vai trò của từng bị cáo mà quyết định mức hình phạt phù hợp.</span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Vì các lẽ trên,</span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>QUYẾT ĐỊNH:</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Căn cứ Điều 382, khoản 3 Điều 388, Điều 391 và Điều 394 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.</span></p>
<ol>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chấp nhận Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 29/QĐ-VKSTC ngày 31/8/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.</span></li>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Hủy Bản án hình sự phúc thẩm số 535/2020/HSPT ngày 30/10/2020 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm số 49/2019/HSST ngày 08/10/2019 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh về phần trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn N, Phan Văn Q, Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Quang T1, Nguyễn Diệu L và Trịnh Anh T2.</span></li>
<li><span style="color: #000000; font-size: 105%;">Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh để xét xử sơ thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật.</span></li>
</ol>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><strong>NỘI DUNG ÁN LỆ</strong></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[7] Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh Lưu Mạnh T nhằm gây áp lực để T phải gọi cho gia đình, người thân chuyển số tiền 150.000.000 đồng mà anh T đã vay của Trần Văn N vào tài khoản của anh T, trả nợ cho N thì anh T mới được thả về. Như vậy, mục đích của chuỗi hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh T mà các bị cáo thực hiện là nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của gia đình anh T. Việc chị Lưu Thị H (chị họ của anh T) mới chuyển vào tài khoản của anh T 02 lần với tổng số tiền là 15.000.000 đồng và trong tài khoản của anh T có sẵn 23.928.049 đồng nhưng các bị cáo chưa buộc anh T rút số tiền này để đưa cho các bị cáo, không làm thay đổi mục đích chiếm đoạt ban đầu của các bị cáo là 150.000.000 đồng.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[8] Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền 150.000.000 đồng là mục đích chiếm đoạt của các bị cáo từ khi bắt đầu việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T. Các bị cáo phải bị xét xử về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.”</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>“[12] Trong vụ án này, bị cáo Trần Văn N là người khởi xướng; trực tiếp rủ các bị cáo khác (Q, Đ, L, T1, T2) tham gia việc bắt giữ anh Lưu Mạnh T nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng mà anh T vay của N; trực tiếp chuẩn bị các công cụ, phương tiện phạm tội như còng số 8, dây trói, xịt hơi cay &#8230;; là người lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ cho các bị cáo khác từ việc dừng zalo của bị cáo L mạo danh để kết bạn, rủ anh T từ Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội, chọn địa điểm đón anh T (sân bay Nội Bài), phân công L đi đón anh T, chọn địa điểm, thời gian để xe taxi chở L và anh T phải tạm dừng dọc đường để xe taxi chở N và đồng bọn tiếp cận, bắt giữ anh T, chọn địa điểm nhốt anh T, phân công người trông giữ anh T &#8230; do vậy, N là người tổ chức, cầm đầu, chủ mưu. Các bị cáo khác là người thực hành, giúp sức tích cực cho N trong kế hoạch bắt giữ anh T nhằm gây áp lực để gia đình anh T phải chuyển tiền theo yêu cầu của N vào tài khoản của anh T từ đó chiếm đoạt số tiền này, cấn trừ khoản nợ mà anh T đã vay của N trước đó. Giữa N và các bị cáo khác có sự cấu kết chặt chẽ, các bị cáo khác đều thực hiện nhất quán theo sự chỉ đạo của N. Hành vi bắt giữ, trói, nhốt, đánh anh T nhằm chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng của gia đình anh T của các bị cáo kéo dài từ ngày 12/01/2019 đến ngày 19/01/2019. Do đó, hành vi của các bị cáo có dấu hiệu của phạm tội “có tổ chức” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[13] Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xét xử các bị cáo với tình tiết định khung tăng nặng “chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” ở điểm e khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự mà chưa xem xét tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” như phân tích ở trên là thiếu sót.</em></span></p>
<p><span style="color: #000000; font-size: 105%;"><em>[14] Việc Viện kiểm sát nhân dân tối cao kháng nghị giám đốc thẩm đề nghị áp dụng thêm tình tiết định khung tăng nặng “có tổ chức ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 169 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, cần được chấp nhận.”</em></span></p>
<p>The post <a href="https://dlaw.com.vn/an-le-so-64-2023-al-ve-dinh-khung-hinh-phat-va-tinh-tiet-dinh-khung-tang-nang-co-to-chuc-trong-toi-bat-coc-nham-chiem-doat-tai-san/">Án lệ số 64/2023/AL về định khung hình phạt và tính tiết định khung tăng nặng “có tổ chức” trong tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản”.</a> appeared first on <a href="https://dlaw.com.vn">LPCLaw</a>.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://dlaw.com.vn/an-le-so-64-2023-al-ve-dinh-khung-hinh-phat-va-tinh-tiet-dinh-khung-tang-nang-co-to-chuc-trong-toi-bat-coc-nham-chiem-doat-tai-san/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
