Mức phạt với tội sản xuất,buôn bán hàng giả theo quy định mới nhất

   Luật sư tố tụng Hình sự

Căn cứ Pháp lý :

  • Bộ luật Hình Sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
  • Nghị định 98/2020/NĐ-CP
  • Nghị định số 185/2013/NĐ-CP 
  • Và một số VBPL liên quan

Hiện này,việc sản xuất, buôn bán hàng giả ảnh hưởng xấu đến phát triển sản xuất lưu thông hàng hóa trong nước, môi trường đầu tư và quyền lợi hợp pháp của các nhà sản xuất kinh doanh chân chính, gây thiệt hại quyền lợi của người tiêu dùng: mặt khác việc kiểm tra, xử lý không thích đáng sẽ gây nên tình trạng ách tắc sản xuất, tiêu thụ và có tác động trái chiều. Đây là một trong những vấn đề nhức nhối của xã hội. Pháp luật đã quy định như thế nào về việc xử lý các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả? Tội sản xuất, buôn bán hàng giả xử phạt như thế nào theo quy định Pháp Luật

1.Thế nào là hàng giả?

Căn cứ theo quy định tại khoản 7 Điều 3 Nghị định 98/2020/NĐ-CP, “hàng giả” bao gồm:

Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hoá không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký;

Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa;

Thuốc giả và dược liệu giả theo quy định tại khoản 33, khoản 34 Điều 2 Luật Dược năm 2016;

Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng;

Hàng hoá có nhãn hàng hoá hoặc bao bì hàng hoá ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hoá; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hoá hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa;

Tem, nhãn, bao bì hàng hoá giả.

Buôn bán hàng giả là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi buôn bán một trong các loại hàng giả như trên là vi phạm pháp luật.

2.Mức phạt đối với tội sản xuất, mua bán hàng giả

Mức phạt tội sản xuất, buôn bán hàng giả được quy định tại điều 192 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017.

Điều 192. Tội sản xuất, buôn bán hàng giả

1.Người nào sản xuất, buôn bán hàng giả thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Hàng giả trị giá từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

b) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 30.000.000 đồng đến dưới 150.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

c) Hàng giả trị giá dưới 20.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới 30.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 193, 194, 195, 196 và 200 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

d) Hàng giả trị giá dưới 20.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn hoặc hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá dưới 30.000.000 đồng nhưng gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp: gây tổn hại cho sức khỏe của một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Hàng giả trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng tính theo giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

e) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 150.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng trong trường hợp không xác định được giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

g) Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

h) Làm chết người;

i) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên;

k) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

l) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng;

m) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa và ngược lại;

n) Tái phạm nguy hiểm.

3.Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Hàng giả có giá thành sản xuất 100.000.000 đồng trở lên;

b) Hàng giả có giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn từ 200.000.000 đồng trở lên;

c) Hàng giả tương đương với số lượng của hàng thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng kỹ thuật, công dụng trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên trong trường hợp không xác định được giá thành sản xuất, giá bán, giá niêm yết, giá ghi trong hóa đơn;

d) Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;

đ) Làm chết 02 người trở lên;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên, với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

h) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4.Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

5.Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Pháp nhân thương mại phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 6.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 6.000.000.000 đồng đến 9.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm;

d) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại Điều 79 của Bộ luật này, thì bị đình chỉ hoạt động vĩnh viễn;

đ) Pháp nhân thương mại còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm.

3.Cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Khách thể của tội sản xuất buôn bán hàng giả

Khách thể trực tiếp của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là những quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý chất lượng hàng hóa, lưu thông, phân phối hàng hóa trên thị trường và đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng.

Đối tượng của tội sản xuất và buôn bán hàng giả là các loại hàng giả. Theo quan niệm chung thì hàng giả là những sản phẩm hàng hóa được sản xuất trái pháp luật có như những sản phẩm, hàng hóa được nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ thị trường hoặc những sản phẩm, hàng hóa không có giá trị sử dụng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng của nó.

Mặt khách quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

“Tội sản xuất, buôn bán hàng giả” thọat nhìn ban đầu thì có thể cho đây là điều luật quy định một hành vi khách quan là hành vi sản xuất buôn bán hàng giả, nhưng khi xem xét ta thấy đây là một điều luật nhưng quy định một tội danh nhưng bao gồm hai hành vi khách quan đó là hành vi sản xuất hàng giả và hành vi buôn bán hàng giả. Mỗi hành vi khách quan này có thể độc lập riêng rẽ với nhau tạo thành các tội như tội sản xuất hàng giả, tội buôn bán hàng giả, hoặc có thể đi liên nhau hành vi nay là tiền đố cho hành vi kia và ngược lại tạo cấu thành tội sản xuất, buôn bán hàng giả.

Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi và có hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả.

Chủ thể của tội sản xuất, buôn bán hàng giả có thể là chủ thể đặc biệt, “lợi dụng quyền hạn, chức vụ” quy định tại điểm d Khoản 2 Điều 156,157 và điểm b Khoản 2 Điều 158, những người này giữ những chức vụ nhất định tại các cơ quan công do đó có một số quyền hạn nhất định liên quan tới hoạt động sản xuất, lưu thông, phân phối hàng hóa …. Nếu người phạm tội là người nước ngoài ( người có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch) phạm tội sản xuất,buôn bán hàng giả trên lãnh thổ Việt Nam thì vẫn bị truy cứu TNHS theo quy định của BLHSVN trừ những trường hợp được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia thì khi đó TNHS của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Về tuổi chịu TNHS: theo tinh thần của các Điều 8, Điều 12 BLHS thì độ tuổi của người phạm tội theo quy định tại Điều 156 sẽ như sau: Nếu người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này quy định tại khoản 1 của điều luật, nhưng phải chịu TNHS về tội phạm này quy đinh tại khỏan 2 và khoản 3 của điều luật. Vì khoản 1 của điều luật là “tội phạm nghiêm trọng” là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội là mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy đến 7 năm tự (Khoản 3 Điều 8) mà khoản 1 Điều 156,157,158 thì mức cao nhất của khung hình phạt là bảy năm tù và căn cứ tại Khoản 2 Điều 12 tuổi chịu TNHS “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc hoặc tội pham đặc biệt nghiêm trọng”. Còn theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 156,157,158 là tội rất nghiêm trọngvà đặc biệt nghiêm trọng và mức cao nhất cua khung hình phạt là đến mười năm năm tự (khoản 3- Điều156,158)và tử hình(khoản 3-Điều157) căn cứ vào khoản 3 Điều 8. Nếu “người phạm tổi đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” (Khoản 2 Điều 12 BLHS).

Mặt chủ quan của tội sản xuất, buôn bán hàng giả

Đối với “tội sản xuất, buôn bán hàng giả”, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: người thực hiện hành vi quy định tại Điều 156,157,158 được thực hiện với lỗi cố ý. Tuy nhiên, để xác định đây là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp thì có nhiều quan điểm trái ngược nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng lỗi của tội phạm này là lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội biết rõ hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả do mình thực hiện là nguy hiểm cho xã hội trái pháp luật nhưng vẫn mong muốn thực hiên hành vi đó.

Quan điểm thứ hai cho rằng người thực hiện hành vi sản xuất, buơn bán hàng giả là do lỗi cố ý (cố ý trực tiếp, hoặc cố ý gián tiếp) người thực hiện các hành vi này, nhận thức rõ các hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước được hậu quả của hành vi và mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất bởi tội sản xuất, buôn bán hàng giả có cấu thành hình thức. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu bắt buộc co nên việc xác định ý chí của người phạm tội đối với hậu quả nguy hiểm cho xã hội không được đặt ra. Người phạm tội đã nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của các hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả song vẫn luôn mong muốn thực hiện các hành vi đó. Do vậy, lỗi trong trường hợp này phải được xác định là lỗi cố ý trực tiếp.

Đối với tội sản xuất, buôn bán hàng giả, thì động cơ phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc khi định tội hoặc quyết định hình phạt. Tuy nhiên việc làm rõ động cơ phạm tội trong từng trường hợp cụ thể để nắm bắt nguyên nhân của tội phạm sẽ giúp nhà nước đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và xây dựng các chính sách kinh tế xã hội phù hợp. Thực tế động cơ phạm tội này chủ yếu là do lòng tham, vụ lợi.

Tội sản xuất, buôn bán hàng giả được thực hiện lỗi cố ý trực tiếp do vậy mục đích phạm tội là luôn tồn tại. Chủ thể thực hiện hành vi này nhằm mục đích thu lợi bất chính và cạnh tranh không lành mạnh. Do vậy khi giải quyết vụ án phải xác định người phạm tội có mục đích thu lợi bất chính hay không. Nếu không có mục đích này thì không thể định tội danh là sản xuất, buôn bán hàng giả.

Nếu còn vướng mắc liên quan đến về tội sản xuất,buôn bán hàng giả  sẽ bị xử lý như thế nào theo quy định pháp luật hoặc những tư vấn pháp lý khác, vui lòng liên hệ CÔNG TY LUẬT TIÊN PHONG để được tư vấn cụ thể

Liên hệ để được hỗ trợ tốt nhất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Hotline: 0913339179
(Quan tâm) Nhận khuyến mãi qua ZALO OA